Phiếu dò điểm lệch giữa hai lá số tử vi: so theo nhóm dữ liệu đầu vào
Chia sao theo dữ liệu chúng cần (can năm, chi năm, tháng, ngày, giờ, cục, giới) để biết điểm lệch nằm ở đầu vào nào hay ở dị bản nào, kèm dòng ghi quy ước.
Chia sao theo dữ liệu chúng cần (can năm, chi năm, tháng, ngày, giờ, cục, giới) để biết điểm lệch nằm ở đầu vào nào hay ở dị bản nào, kèm dòng ghi quy ước.
Đổi cách tính tháng nhuận không chỉ dời vài sao nhỏ: cung Mệnh, cục và cả Tử Vi có thể nhảy chỗ. Bài lần theo chuỗi phụ thuộc và cách tự kiểm từng ô.
Một ô trên lá số đi qua sách chữ Hán, bản dịch, bản in lại rồi mới tới tay bạn. Cách lần ngược chuỗi đó để biết quy tắc mình đang dùng đến từ đâu.
Lá số giấy khó so, khó tìm, dễ mủn. Chép sang bảng 12 dòng theo cột cố định giúp đối chiếu với bản lập lại. Mẫu cột, thứ tự chép và cách xử lý chữ khó đọc.
Mười can năm sinh cho mười vị trí Lộc Tồn; Kình Dương đứng trước, Đà La đứng sau. Bảng tra đủ ba sao và cách kiểm một lá số trong vài giây.
Bảng tra Thiên Khôi, Thiên Việt cho mười can năm sinh, câu vần con giáp để nhớ, dị bản Sửu – Mùi hay Ngọ – Dần của tuổi Canh và cách ghi lên lá số.
Hỏa Tinh, Linh Tinh khởi từ cung nào theo chi năm, đếm thuận hay nghịch theo giờ sinh. Bảng tra đủ 12 giờ cho cả hai chiều và cách ghi dị bản.
Triệt tra theo can năm, Tuần tra theo tuần giáp của năm sinh. Hai bảng ngắn, cách tự suy ra từ vòng 60 hoa giáp và những phép thử để kiểm lá số.
Bốn sao an chỉ theo giờ sinh: Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp. Bảng 12 giờ, quy tắc khởi điểm và chiều đếm, cùng các trục đối xứng để tự kiểm.
Các dòng ở ô giữa lá số không đứng riêng: năm can chi quyết định âm dương, bản mệnh, chiều vận. Cách đối chiếu chéo để bắt lỗi trước khi đọc mười hai cung.
Lá số cũ viết chữ Hán chỉ dùng chừng tám chục chữ lặp đi lặp lại. Bảng chữ can chi, ngày tháng, tên cung, chính tinh và cách suy năm sinh từ can chi.
Năm thứ trên lá số an theo giờ sinh và dịch cùng nhau khi giờ đổi. Bảng tra 12 giờ giúp biết lá số trong tay thật sự được lập với giờ nào.