Giờ sinh lấy từ đâu và tin đến mức nào: xếp hạng các nguồn trước khi lập lá số
Giấy chứng sinh, sổ đẻ, sổ tay của mẹ hay lời kể của bà: mỗi nguồn giờ sinh tin được một mức. Cách xếp hạng, đối chiếu và ghi rõ nguồn lên lá số.
Giấy chứng sinh, sổ đẻ, sổ tay của mẹ hay lời kể của bà: mỗi nguồn giờ sinh tin được một mức. Cách xếp hạng, đối chiếu và ghi rõ nguồn lên lá số.
Không có giấy tờ, giờ sinh chỉ còn trong trí nhớ người thân. Cách đặt câu hỏi theo khung cảnh, quy mốc sinh hoạt ra giờ đồng hồ và ghi khoảng sai số trung thực.
Sinh 8 giờ 55, 12 giờ 58 hay 17 giờ 02 nằm sát ranh canh giờ. Cách lập hai lá số, biết sao nào dời chỗ, sao nào đứng yên, và ghi quy ước cho đúng.
Giờ sinh ghi 7 giờ, 13 giờ, 17 giờ tròn trĩnh thường đã làm tròn và rơi đúng ranh canh giờ. Cách nhận ra con số tròn, tính khoảng sai số và ghi lên lá số.
Giờ đồng hồ theo múi UTC+7 khác giờ mặt trời nơi sinh vài phút đến hơn nửa tiếng. Hai quan điểm về hiệu chỉnh, phép tính theo kinh độ và mùa, cách ghi quy ước.
Theo cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế, miền Nam dùng giờ UTC+8 từ đầu 1960 đến giữa 1975. Giờ trên giấy của người sinh thời kỳ này cần quy đổi trước khi lập lá số.
Thiếu giờ sinh, lá số không mất hết: sao an theo năm, tháng đứng yên; cung Mệnh, cục, chính tinh và sao an theo giờ thì đổi. Cách lập 12 phương án, đọc phần chu
Không chắc giờ sinh, nhiều người nhờ "chỉnh giờ" bằng các việc đã xảy ra. Cách làm ấy diễn ra thế nào, vì sao dễ khớp ngược, cách giữ nó tách khỏi dữ liệu gốc.
Giờ sinh chỉ được ghi một lần. Danh sách những gì cha mẹ nên lưu ngay khi con ra đời: giờ phút, nguồn, nơi sinh, múi giờ, ngày âm kiểm sau, và cách cất giữ lâu