Người sinh từ 23 giờ đến trước nửa đêm của ngày cuối tháng nằm sát tháng nhuận phải qua hai lựa chọn cùng lúc: quy ước giờ Tý quyết định ngày sinh là hôm đó hay hôm sau, quy ước tháng nhuận quyết định hôm đó được an như tháng mấy. Hai lựa chọn đan vào nhau theo cách không trực giác: có lúc sang tháng âm lịch mới mà số tháng dùng để an sao không đổi, có lúc ở nguyên ngày cũ mà số tháng vẫn đổi theo quy ước.
Ca giờ Tý ở ngày cuối một tháng bình thường, khi đổi ngày kéo theo đổi tháng, đã được nhiều bài nói tới. Bài này chỉ xét hai đêm đặc biệt: đêm cuối tháng thường ngay trước tháng nhuận, và đêm cuối của chính tháng nhuận. Ví dụ dùng năm Quý Mão 2023, nhuận tháng Hai, mọi ô đã tính lại. Lá số tính đúng theo quy ước đã ghi chỉ có nghĩa phép tính không sai; nó không biến lời đoán thành điều có bằng chứng.
Hai đêm cần để ý trong năm có tháng nhuận
Theo lịch âm Việt Nam tính cho UTC+7, năm Quý Mão 2023 có tháng Hai thường từ 20/2 đến 21/3 (30 ngày) và tháng Hai nhuận từ 22/3 đến 19/4 (29 ngày), rồi tới tháng Ba bắt đầu ngày 20/4. Như vậy có hai đêm mà giờ Tý vắt qua ranh tháng: đêm 21/3, chuyển từ ngày 30 tháng Hai sang mùng Một tháng Hai nhuận; và đêm 19/4, chuyển từ ngày 29 tháng Hai nhuận sang mùng Một tháng Ba.
Ở đêm thứ nhất, người sinh sau 23 giờ có thể ở lại tháng Hai thường hoặc bước vào tháng nhuận. Ở đêm thứ hai, người đó có thể ở lại tháng nhuận hoặc bước ra tháng Ba. Điều làm hai ca này khác ca cuối tháng bình thường là con số tháng dùng để an sao không đi theo tên tháng âm lịch một cách đơn giản, mà còn qua bộ lọc của quy ước tháng nhuận.
Có ba quy ước tháng nhuận thường gặp: tính trọn theo tháng mang tên (tháng Hai nhuận an như tháng Hai), chia đôi (nửa đầu an như tháng Hai, nửa sau như tháng Ba), và tính trọn sang tháng sau (an như tháng Ba). Kết hợp với hai quy ước giờ Tý, mỗi đêm có sáu tổ hợp, nhưng như sẽ thấy, chúng gom lại chỉ còn ít lá số khác nhau thật sự.
Số tháng dùng để an sao ở hai đêm của năm 2023
Bảng ghi số tháng mà mỗi tổ hợp quy ước dùng cho người sinh lúc 23 giờ 30 của hai đêm. Dòng "ở lại" là quy ước đổi ngày lúc nửa đêm; dòng "sang hôm sau" là quy ước đổi ngày từ 23 giờ.
| Đêm sinh và quy ước giờ Tý | Tính trọn theo tháng mang tên | Chia đôi | Tính trọn sang tháng sau |
|---|---|---|---|
| 21/3, ở lại ngày 30 tháng Hai | tháng Hai | tháng Hai | tháng Hai |
| 21/3, sang mùng Một tháng Hai nhuận | tháng Hai | tháng Hai | tháng Ba |
| 19/4, ở lại ngày 29 tháng Hai nhuận | tháng Hai | tháng Ba | tháng Ba |
| 19/4, sang mùng Một tháng Ba | tháng Ba | tháng Ba | tháng Ba |
Đọc bảng sẽ thấy điều ngược trực giác. Ở đêm 21/3, quy ước giờ Tý chỉ làm đổi số tháng nếu người lập tính trọn tháng nhuận sang tháng sau. Ở đêm 19/4, nó chỉ làm đổi số tháng nếu người lập tính trọn tháng nhuận theo tháng mang tên. Với người theo quy ước chia đôi, cả hai đêm đều không có chuyện đổi tháng do giờ Tý: ngày mùng Một tháng nhuận vẫn thuộc nửa đầu, ngày 29 tháng nhuận đã thuộc nửa sau.
Lá số cụ thể: những tổ hợp còn lại sau khi gom
Gom các tổ hợp có cùng ngày và cùng số tháng, mỗi đêm còn lại ba lá số khác nhau. Bảng ghi phần chính của từng lá số cho người sinh giờ Tý năm Quý Mão, đã tính lại theo quy tắc an phổ biến.
| Đêm | Ngày và tháng dùng để an | Mệnh (cùng Thân) | Cục | Tử Vi |
|---|---|---|---|---|
| 21/3 | ngày 30, tháng Hai | Mão | Thủy nhị cục (Ất Mão) | Thìn |
| 21/3 | mùng Một, tháng Hai | Mão | Thủy nhị cục (Ất Mão) | Sửu |
| 21/3 | mùng Một, tháng Ba | Thìn | Thổ ngũ cục (Bính Thìn) | Ngọ |
| 19/4 | ngày 29, tháng Hai | Mão | Thủy nhị cục (Ất Mão) | Mão |
| 19/4 | ngày 29, tháng Ba | Thìn | Thổ ngũ cục (Bính Thìn) | Ngọ |
| 19/4 | mùng Một, tháng Ba | Thìn | Thổ ngũ cục (Bính Thìn) | Ngọ |
Một chi tiết đáng chú ý ở đêm 19/4: hai lá số "ngày 29 tháng Ba" và "mùng Một tháng Ba" có cùng cung Mệnh, cùng cục và cùng vị trí Tử Vi, vì ở Thổ ngũ cục ngày 29 và ngày 1 tình cờ cho Tử Vi cùng ở Ngọ. Chúng chỉ khác nhau ở các sao an theo ngày như Tam Thai, Bát Toạ, Ân Quang, Thiên Quý. Người theo quy ước chia đôi hay tính trọn sang tháng sau vì thế gần như không phải bận tâm quy ước giờ Tý ở đêm này. Người theo quy ước tính trọn theo tháng mang tên thì ngược lại: chọn giờ Tý là chọn giữa hai lá số khác hẳn nhau.
Hai đêm cần để ý ở các năm nhuận gần đây
Bảng ghi hai đêm có giờ Tý vắt qua ranh tháng nhuận ở năm năm nhuận gần đây, tính theo lịch Việt (UTC+7); ở các năm này lịch tính cho UTC+8 cho cùng ngày. Người sinh từ 23 giờ của những đêm này thuộc ca của bài.
| Năm âm lịch | Tháng nhuận | Đêm trước tháng nhuận | Đêm cuối tháng nhuận |
|---|---|---|---|
| Đinh Dậu 2017 | tháng Sáu nhuận | 22/7 (29 tháng Sáu) | 21/8 (30 tháng Sáu nhuận) |
| Canh Tý 2020 | tháng Tư nhuận | 22/5 (30 tháng Tư) | 20/6 (29 tháng Tư nhuận) |
| Quý Mão 2023 | tháng Hai nhuận | 21/3 (30 tháng Hai) | 19/4 (29 tháng Hai nhuận) |
| Ất Tỵ 2025 | tháng Sáu nhuận | 24/7 (30 tháng Sáu) | 22/8 (29 tháng Sáu nhuận) |
| Mậu Thân 2028 | tháng Năm nhuận | 22/6 (30 tháng Năm) | 21/7 (29 tháng Năm nhuận) |
Bảng cũng cho thấy độ dài tháng không cố định: tháng Sáu thường năm 2017 chỉ có 29 ngày nên đêm trước tháng nhuận là đêm 29, còn tháng Sáu nhuận năm đó đủ 30 ngày nên đêm cuối là đêm 30. Ở các năm khác thì ngược lại. Vì vậy câu "sinh đêm ba mươi" không đủ để biết người đó có thuộc ca này hay không; phải tra ngày dương lịch.
Với năm Mậu Thân 2028, các ngày được tính trước theo thiên văn. Lịch in năm đó nên cho cùng kết quả, nhưng khi tới lúc dùng, bạn vẫn nên đối chiếu một lần.
Vì sao ca này dễ bị bỏ sót
Người dùng không biết mình sinh sát tháng nhuận. Ngày âm lịch được đổi tự động, người dùng chỉ thấy "30 tháng Hai" mà không biết ngày hôm sau đã là tháng nhuận. Không biết điều đó, họ không nghĩ tới chuyện giờ Tý có thể kéo theo cả quy ước tháng nhuận.
Hai cài đặt nằm ở hai chỗ. Trên nhiều công cụ, tuỳ chọn giờ Tý và cách xử lý tháng nhuận (nếu có) là hai mục riêng, áp dụng lặng lẽ. Lá số hiện ra chỉ ghi kết quả cuối cùng, không cho biết nó đi qua hai bộ lọc nào.
Ô thông tin không ghi chữ nhuận. Lá số theo quy ước chia đôi hay tính sang tháng sau thường ghi "tháng Ba" mà không nhắc ngày gốc là "29 tháng Hai nhuận". Người đọc sau tưởng đó là người sinh cuối tháng Ba thường.
Giờ sinh ghi tròn 23 giờ. Mốc 23 giờ là ranh giờ Hợi và giờ Tý. Nếu giờ có thể là 22 giờ 55, thêm một lá số giờ Hợi ở ngày cũ, với cung Mệnh khác hẳn vì giờ khác.
Quy trình cho người sinh đêm sát tháng nhuận
Áp dụng khi giờ sinh từ khoảng 22 giờ 30 trở đi, năm sinh có tháng nhuận, và ngày sinh là ngày cuối của tháng đứng trước tháng nhuận hoặc ngày cuối của tháng nhuận.
- Tra lịch Việt để biết chính xác ngày đầu và ngày cuối của tháng nhuận, cùng độ dài tháng đứng trước nó.
- Xác định độ tin cậy của giờ sinh. Nếu giờ có thể rơi vào giờ Hợi, thêm khả năng đó.
- Lập bảng số tháng như ở trên cho đêm sinh của bạn, theo ba quy ước tháng nhuận và hai quy ước giờ Tý.
- Gom các tổ hợp cùng ngày, cùng số tháng. Thường còn hai hoặc ba lá số.
- Lập từng lá số, ghi ở góc mỗi bản: ngày dương lịch, giờ đồng hồ, ngày âm lịch gốc có chữ nhuận nếu có, quy ước giờ Tý, quy ước tháng nhuận.
- Chọn bản chính theo truyền thống bạn theo học, không theo lời luận nghe hợp ý hơn.
Nếu bạn lập lá số trên AI Huyền Học hay một công cụ khác, kiểm cả hai cài đặt và đối chiếu ngày âm lịch trên lá số với kết quả tra lịch ở bước một.
Một dòng ghi chú cho hai quy ước
Không có cách nào dùng lời luận để chọn quy ước đúng, vì lời luận không phải phép đo; ai thử sẽ gặp ngay thiên kiến khớp ngược, đọc bản nào cũng thấy vài điều trúng. Điều kiểm được là sự nhất quán: một lá số tuyên bố dùng quy ước đổi ngày từ 23 giờ và quy ước chia đôi tháng nhuận thì mọi ô phải tính từ đúng ngày và đúng số tháng mà hai quy ước đó cho ra.
Một dòng ghi chú đủ cho người đọc sau: "sinh 23:30 ngày 19/4/2023 giờ Việt Nam; lịch Việt UTC+7; giờ Tý tính sang ngày mới; tháng nhuận chia đôi; lá số theo mùng Một tháng Ba Quý Mão". Ai muốn lập lại theo quy ước khác đều có đủ dữ liệu gốc để làm.
Với người sinh ở hai đêm hiếm hoi này, dòng ghi chú là thứ biến lá số thành một bản ghi lập lại được: biết nó đến từ đâu, qua những bộ lọc nào, và khác các bản khác ở chỗ nào. Thiếu dòng đó, hai người cầm hai bản sẽ tranh luận về lời luận trong khi gốc rễ chỉ là hai cài đặt khác nhau.
Câu hỏi thường gặp
Sinh 23 giờ 30 đêm cuối tháng nhuận thì tính tháng mấy?
Tuỳ hai quy ước. Nếu tính trọn tháng nhuận theo tháng mang tên, ở lại ngày cuối tháng nhuận thì vẫn là tháng mang tên, sang hôm sau thì là tháng kế tiếp. Nếu chia đôi hoặc tính trọn sang tháng sau, cả hai cách đều cho tháng kế tiếp.
Sinh giờ Tý đêm trước tháng nhuận có đổi tháng không?
Với quy ước tính trọn theo tháng mang tên hoặc chia đôi, không: ngày cuối tháng thường và mùng Một tháng nhuận đều an như cùng một tháng. Chỉ quy ước tính trọn tháng nhuận sang tháng sau mới làm đổi tháng.
Sinh 0 giờ 30 rạng sáng mùng Một tháng nhuận có cần lo không?
Không cần lo về giờ Tý, vì sau nửa đêm mọi quy ước đều tính là mùng Một. Chỉ cần ghi rõ quy ước tháng nhuận, vì ngày đó nằm trong tháng nhuận.
Sinh giờ Tý thì Mệnh và Thân cùng cung phải không?
Đúng theo quy tắc an phổ biến: cung Mệnh đếm nghịch, cung Thân đếm thuận từ cung của tháng sinh, và với giờ Tý cả hai dừng ngay tại cung đó. Vì vậy đổi số tháng ở ca giờ Tý làm dời cả Mệnh lẫn Thân.
Năm nào cũng có hai đêm như vậy không?
Chỉ năm có tháng nhuận, trung bình khoảng bảy lần trong mười chín năm. Mỗi năm nhuận có đúng hai đêm: đêm cuối của tháng đứng trước tháng nhuận và đêm cuối của chính tháng nhuận.
Giờ sinh ghi đúng 23 giờ thì có mấy khả năng?
Mốc 23 giờ là ranh giờ Hợi và giờ Tý, nên phải tính thêm khả năng giờ Hợi ở ngày cũ. Cộng với các tổ hợp quy ước, sau khi gom thường còn ba đến bốn lá số khác nhau.