Một lá số tử vi cũ không ghi quy ước tháng nhuận vẫn cho phép bạn tính ngược ra tháng mà người lập đã dùng. Cung Mệnh, cung Thân và các sao an theo tháng như Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Hình, Thiên Riêu đều được an bằng phép đếm từ tháng sinh. Biết vị trí của chúng, bạn đếm ngược lại là ra số tháng, rồi so với ngày sinh để biết người lập theo quy ước nào.
Việc này hữu ích khi gia đình còn giữ lá số chép tay hay in từ nhiều năm trước, nay lập lại bằng máy thấy khác mà không ai nhớ người lập cũ tính thế nào. Bài đưa các công thức suy ngược, một ví dụ giả định đã tính lại, và cách đọc khi các phép suy không khớp nhau. Mục tiêu là hiểu lá số được tính ra sao; một lá số tính đúng vẫn không biến lời đoán thành điều có bằng chứng.
Vì sao lá số cũ ít khi ghi quy ước
Thời lá số còn được lập bằng tay theo sách, người lập thường theo một truyền thống duy nhất và không thấy cần ghi quy ước, vì với họ chỉ có một cách. Lá số trao tay cho gia đình chỉ ghi ngày giờ sinh, có khi chỉ ghi năm tháng âm lịch, còn cách xử lý tháng nhuận, giờ Tý, ngày cuối tháng nằm trong đầu người lập. Khi người đó không còn, thông tin ấy mất theo.
Với người sinh tháng nhuận, đây là chỗ hay sinh tranh luận. Lá số cũ cho cung Mệnh ở một cung, lá số lập lại bằng máy cho cung bên cạnh, và gia đình không biết bản nào "đúng". Thật ra cả hai có thể đều đúng theo quy ước của mình. Điều cần làm trước tiên là xác định bản cũ đã dùng tháng mấy; chỉ khi biết điều đó, việc so hai bản mới có nghĩa.
May mắn là lá số tử vi mang sẵn dấu vết của tháng sinh ở nhiều chỗ độc lập. Chỉ cần lá số còn đọc được tên cung, tên vài sao và giờ sinh, bạn có thể tự suy mà không cần biết người lập theo sách nào.
Phép suy ngược cũng giúp tránh một cám dỗ quen thuộc: thấy bản cũ khác bản mới, người ta hay chọn bản có lời luận "giống" người được lập lá số hơn. Cách chọn đó để kết quả quyết định dữ liệu. Suy ngược làm theo chiều ngược lại: tìm xem dữ liệu nào đã sinh ra bản cũ, rồi mới quyết định giữ hay bỏ, và ghi lại lý do cho người đọc sau.
Công thức suy ngược tháng từ lá số
Bảng dưới dùng quy tắc an phổ biến. Đánh số các cung theo địa chi: Tý 1, Sửu 2, Dần 3, Mão 4, Thìn 5, Tỵ 6, Ngọ 7, Mùi 8, Thân 9, Dậu 10, Tuất 11, Hợi 12; giờ cũng đánh số như vậy, giờ Tý 1 đến giờ Hợi 12. Mọi phép cộng trừ đều vòng theo 12: kết quả nhỏ hơn 1 thì cộng 12, lớn hơn 12 thì trừ 12.
| Dấu vết trên lá số | Quy tắc an (chiều xuôi) | Cách suy ngược ra tháng |
|---|---|---|
| Cung Mệnh | Từ Dần là tháng Giêng đếm thuận tới tháng sinh, rồi coi đó là giờ Tý, đếm nghịch tới giờ sinh | Tháng = số cung Mệnh − 3 + số giờ |
| Cung Thân | Cùng điểm xuất phát, đếm thuận tới giờ sinh | Tháng = số cung Thân − 1 − số giờ |
| Tả Phù | Khởi tháng Giêng ở Thìn, đếm thuận | Tháng = số cung Tả Phù − 4 |
| Hữu Bật | Khởi tháng Giêng ở Tuất, đếm nghịch | Tháng = 12 − số cung Hữu Bật |
| Thiên Hình | Khởi tháng Giêng ở Dậu, đếm thuận | Tháng = số cung Thiên Hình − 9 |
| Thiên Riêu (cùng cung Thiên Y) | Khởi tháng Giêng ở Sửu, đếm thuận | Tháng = số cung Thiên Riêu − 1 |
Ví dụ kiểm nhanh với Tả Phù: tháng Giêng ở Thìn (số 5), công thức cho 5 − 4 = 1. Với Hữu Bật tháng Giêng ở Tuất (số 11): 12 − 11 = 1. Bạn nên tự thử công thức với tháng Giêng như vậy trước khi dùng, để chắc đã đánh số cung đúng cách. Sáu dấu vết này độc lập về mặt ghi chép: một lỗi chép ở một ô không làm sai các ô khác, nên khi năm, sáu phép cùng ra một số tháng, bạn có thể tin kết quả.
Ví dụ giả định: một lá số cũ của người sinh tháng Hai nhuận
Giả định gia đình giữ một lá số chép tay của người sinh ngày 20 tháng Hai nhuận năm Quý Mão (10/4/2023), giờ Thìn. Lá số không ghi quy ước. Trên đó đọc được: cung Mệnh ở Tý, cung Thân ở Thân, Tả Phù ở Ngọ, Hữu Bật ở Thân, Thiên Hình ở Hợi, Thiên Riêu ở Mão.
- Giờ Thìn là giờ số 5. Cung Mệnh ở Tý, số 1: tháng = 1 − 3 + 5 = 3.
- Cung Thân ở Thân, số 9: tháng = 9 − 1 − 5 = 3.
- Tả Phù ở Ngọ, số 7: tháng = 7 − 4 = 3. Hữu Bật ở Thân, số 9: tháng = 12 − 9 = 3.
- Thiên Hình ở Hợi, số 12: tháng = 12 − 9 = 3. Thiên Riêu ở Mão, số 4: tháng = 4 − 1 = 3.
- Sáu phép cùng ra tháng Ba. Người lập cũ đã an người này như sinh tháng Ba, không phải tháng Hai.
- Đối chiếu ngày sinh: ngày 20 thuộc nửa sau tháng nhuận. Vậy người lập theo quy ước chia đôi hoặc quy ước tính trọn sang tháng sau; hai quy ước này cho cùng kết quả với ngày 20 nên không phân biệt được từ lá số này.
- Nếu lập lại bằng máy theo quy ước tính trọn theo tháng mang tên, bạn sẽ được cung Mệnh ở Hợi, Thủy nhị cục, Tử Vi ở Hợi, khác hẳn bản cũ có Kim tứ cục và Tử Vi ở Ngọ. Sự khác biệt đó giờ đã có lời giải thích.
Toàn bộ các vị trí trong ví dụ đã được tính lại theo quy tắc an phổ biến. Với lá số thật của gia đình bạn, chỉ cần thay số liệu và làm đúng các bước.
Từ số tháng suy ra quy ước tháng nhuận
Khi đã biết số tháng người lập dùng, so với ngày sinh trong tháng nhuận để thu hẹp quy ước. Bảng giả định tháng nhuận mang số N.
| Ngày sinh trong tháng nhuận | Lá số dùng tháng N | Lá số dùng tháng N + 1 |
|---|---|---|
| Mùng Một đến ngày 14 | Tính trọn theo tháng mang tên, hoặc chia đôi | Tính trọn sang tháng sau |
| Ngày 15 | Tính trọn theo tháng mang tên, hoặc chia đôi với ranh sau ngày 15 | Tính trọn sang tháng sau, hoặc chia đôi với ranh sau ngày 14 |
| Ngày 16 trở đi | Tính trọn theo tháng mang tên | Chia đôi, hoặc tính trọn sang tháng sau |
Có những ô vẫn còn hai khả năng; một lá số đơn lẻ không đủ để phân biệt. Nếu gia đình còn lá số của một người khác do cùng người lập, sinh tháng nhuận ở nửa kia của tháng, bạn có thể chốt được. Nếu không, ghi kết luận ở mức chắc được, ví dụ "người lập cũ đã dùng tháng Ba, theo một trong hai quy ước: chia đôi hoặc tính trọn sang tháng sau".
Khi các phép suy không ra cùng một tháng
Cung Mệnh, cung Thân lệch, các sao theo tháng khớp. Nghi giờ sinh: người lập cũ có thể đã dùng giờ khác với giờ gia đình đang nhớ, hoặc chép nhầm giờ. Dùng công thức ngược, bạn còn tính được giờ mà người lập đã dùng: số giờ = số tháng (từ Tả Phù) + 3 − số cung Mệnh, vòng theo 12.
Một sao theo tháng lệch, các dấu vết khác khớp. Thường là lỗi chép tên sao sang ô bên cạnh, hoặc sách người lập dùng có điểm khởi khác cho sao đó. Đa số với một dấu vết lệch thì tin năm dấu vết còn lại.
Mọi dấu vết khớp nhau nhưng không khớp ngày sinh nào trong tháng nhuận. Có thể lá số được lập cho một tháng khác hẳn do người lập đổi lịch sai, hoặc không phải lá số của người này. Lúc đó cần đối chiếu thêm năm (qua Lộc Tồn hay vòng Thái Tuế) và ngày (qua vị trí Tử Vi và cục) trước khi kết luận.
Lá số rách, mất vài ô. Chỉ cần hai dấu vết độc lập ra cùng một tháng là đủ để có kết luận tạm. Ghi rõ đã dùng những dấu vết nào.
Dùng cách suy ngược cho các ca khác và ghi lại kết luận
Phép suy ngược không chỉ dùng cho tháng nhuận. Với năm, Lộc Tồn cho biết can năm người lập đã dùng: Lộc Tồn ở Dần là can Giáp, ở Mão là Ất, ở Tỵ là Bính hoặc Mậu, ở Ngọ là Đinh hoặc Kỷ, ở Thân là Canh, ở Dậu là Tân, ở Hợi là Nhâm, ở Tý là Quý. Vòng Thái Tuế cho biết chi năm. Hai dấu vết đó đủ để biết lá số cũ đã lấy năm theo Tết hay bị lẫn với năm khác, một câu hỏi hay gặp với người sinh quanh Tết.
Với ngày, vị trí Tử Vi kết hợp với cục cho phép kiểm xem người lập dùng ngày nào, hữu ích với người sinh giờ Tý hay sinh ngày cuối tháng. Phép này cần bảng Tử Vi theo cục và ngày nên mất thêm vài phút, nhưng nguyên tắc giống hệt: đếm ngược từ kết quả về dữ kiện.
Khi đã có kết luận, ghi thẳng lên một tờ kèm lá số cũ: "suy ngược từ sáu dấu vết: người lập dùng tháng Ba; ngày sinh 20 tháng Hai nhuận; quy ước là chia đôi hoặc tính trọn sang tháng sau". Từ đó, mọi lần lập lại có thể chọn đúng quy ước để ra cùng lá số, hoặc chủ động chọn quy ước khác và biết vì sao kết quả khác đi. Lá số cũ, đọc được như vậy, trở thành một bản ghi có giá trị thay vì một nguồn gây tranh cãi.
Câu hỏi thường gặp
Lá số cũ không ghi giờ sinh thì suy ngược được không?
Vẫn suy được tháng từ Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Hình, Thiên Riêu vì các sao này chỉ phụ thuộc tháng. Sau đó dùng cung Mệnh và tháng vừa tìm được để tính ngược ra giờ mà người lập đã dùng.
Vì sao nên dùng nhiều dấu vết thay vì một?
Vì một ô có thể bị chép nhầm hoặc theo sách có điểm khởi khác. Khi năm, sáu dấu vết độc lập cùng ra một tháng, khả năng tất cả cùng sai theo một kiểu là rất thấp, nên kết luận đáng tin hơn nhiều.
Suy ngược có cho biết lá số cũ đúng hay sai không?
Nó cho biết lá số cũ đã được tính theo dữ kiện nào và quy ước nào. Nếu dữ kiện đó khớp với ngày giờ sinh thật theo một quy ước có tên, lá số cũ không sai, chỉ khác quy ước. Còn lời luận trên lá số đúng hay không là câu hỏi khác.
Thiên Hình và Thiên Riêu có điểm khởi giống nhau ở mọi sách không?
Quy tắc khởi Thiên Hình ở Dậu và Thiên Riêu ở Sửu là cách phổ biến. Nếu một sách dùng điểm khởi khác, dấu vết đó sẽ lệch trong khi các dấu vết còn lại khớp; khi ấy tin các dấu vết khớp nhau và ghi chú điểm lệch.
Người lập cũ còn sống thì có cần suy ngược không?
Hỏi trực tiếp là nhanh nhất. Vẫn nên làm phép suy ngược để đối chiếu, vì trí nhớ về một lá số lập từ lâu có thể không còn chính xác, và để ghi lại quy ước thành chữ cho lần sau.