Mỗi sao trên lá số được an từ một nhóm dữ liệu nhất định: có sao chỉ cần can năm, có sao chỉ cần tháng, có sao cần ngày và cục. Khi so hai lá số của cùng một người, hãy so theo từng nhóm: nhóm nào lệch thì dữ liệu tương ứng đã được hiểu khác; nếu mọi nhóm dữ liệu khớp mà vẫn có sao lệch, đó mới là dị bản giữa các sách hoặc các phái. Cách này biến việc "tìm xem sai ở đâu" thành một phép loại trừ có thứ tự.
Bài đưa bảng nhóm sao theo dữ liệu, thứ tự so, danh sách các dị bản đã biết để đối chiếu, và một dòng quy ước nên ghi lên mọi lá số. Bài không đánh giá phái nào đúng, cũng không đọc nghĩa của bất kỳ điểm lệch nào. Một lá số khớp mọi quy ước đã chọn là một lá số lập đúng; điều đó không biến lời đoán dựa trên nó thành có bằng chứng.
Bảng nhóm sao theo dữ liệu đầu vào
Bảng dưới gom các thành phần thường gặp trên lá số theo dữ liệu chúng cần. Các vị trí và quy tắc theo cách an thông dụng; chỗ nào có dị bản đã biết thì ghi ở cột cuối.
| Nhóm dữ liệu | Thành phần tiêu biểu | Dị bản đã biết trong nhóm |
|---|---|---|
| Can năm | Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La, Thiên Khôi, Thiên Việt, tứ hoá năm sinh, Triệt | Tứ hoá can Canh (Khoa, Kỵ), Hoá Khoa can Nhâm và can Mậu, Khôi Việt năm Canh |
| Chi năm | Thiên Mã, Đào Hoa, Hồng Loan, vòng Thái Tuế | Không nêu trong bài này |
| Can chi năm | Tuần | Vị trí thống nhất, chỉ khác cách vẽ |
| Tháng | Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Hình, Thiên Riêu | Cách tính người sinh tháng nhuận |
| Giờ | Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp | Không nêu trong bài này |
| Tháng và giờ | Cung Mệnh, cung Thân, từ đó can cung và cục | Kéo theo dị bản tháng nhuận |
| Ngày (đếm từ sao khác) | Tam Thai, Bát Toạ, Ân Quang, Thiên Quý | Quy ước giờ Tý đổi ngày |
| Cục và ngày | Tử Vi và mười bốn chính tinh | Quy ước giờ Tý đổi ngày |
| Âm dương nam nữ | Chiều đại vận, vòng Tràng Sinh, vòng Bác Sĩ | Chiều đếm Hoả Tinh, Linh Tinh (chi năm, giờ, âm dương nam nữ) |
| Giới tính | Chiều tiểu hạn | Không nêu trong bài này |
| Không phụ thuộc dữ liệu | Bảng độ sáng, cách ghi tuổi đại vận | Bảng miếu hãm, tuổi mụ hay tuổi tròn |
Cột giữa chỉ liệt kê thành phần tiêu biểu, không phải toàn bộ. Khi gặp một sao không có trong bảng, hãy tra quy tắc an của nó để xếp vào đúng nhóm. Cột cuối chỉ ghi những dị bản đã được bàn kỹ ở các bài khác trong cùng mục này; "không nêu" không có nghĩa nhóm đó hoàn toàn không có dị bản.
Thứ tự so: từ nhóm ít dữ liệu tới nhóm nhiều dữ liệu
So từ nhóm dùng ít dữ liệu nhất, vì chúng cho kết luận rõ nhất:
- Ô giữa lá số: năm, tháng, ngày âm lịch, canh giờ, giới tính, cục. Ghi mọi chỗ khác. Phần lớn trường hợp dừng ở đây.
- Nhóm can năm: Lộc Tồn, Kình, Đà. Nếu lệch, can năm đã khác; quay lại mốc năm. Nếu khớp, so tiếp tứ hoá và Khôi Việt; lệch ở đây mà Lộc Tồn khớp thì đối chiếu với danh sách dị bản của nhóm.
- Nhóm chi năm: Thiên Mã, vòng Thái Tuế. Lệch là chi năm khác.
- Nhóm tháng: Tả Phù, Hữu Bật. Lệch là tháng khác; nghĩ tới tháng nhuận hoặc ngày cuối tháng.
- Nhóm giờ: Văn Xương, Văn Khúc. Lệch là canh giờ khác; nghĩ tới giờ sinh giáp ranh.
- Cung Mệnh và cục. Nếu hai nhóm tháng và giờ đã khớp thì cung Mệnh phải khớp; nếu không, một nguồn tính sai.
- Nhóm ngày và chính tinh. Tam Thai, Bát Toạ lệch một cung theo hai chiều ngược nhau là dấu hiệu ngày lệch một, thường do quy ước giờ Tý.
- Nhóm chiều: đại vận, Tràng Sinh, Bác Sĩ, tiểu hạn. Đối chiếu giới tính và âm dương.
- Cuối cùng: Hoả Tinh, Linh Tinh, bảng độ sáng, cách ghi tuổi.
Đến cuối danh sách mà mọi nhóm dữ liệu đều khớp, những gì còn lệch chỉ có thể là dị bản hoặc lỗi lập trình. Đối chiếu với danh sách dị bản đã biết; không có trong danh sách thì ghi chú lại và tìm thêm nguồn.
Ví dụ giả định: một ca dò từ đầu đến cuối
Hai lá số của cùng một người nam, năm Canh Ngọ, tháng 5 âm lịch, ngày 10. Giấy tờ ghi "9 giờ sáng"; một nguồn xếp vào giờ Thìn (khoảng 7 tới 9 giờ), nguồn kia xếp vào giờ Tỵ (khoảng 9 tới 11 giờ). Các vị trí theo cách an thông dụng, đã tự tính lại.
| Bước so | Lá số giờ Thìn | Lá số giờ Tỵ | Kết luận |
|---|---|---|---|
| Ô giữa | Giờ Thìn, Thổ ngũ cục | Giờ Tỵ, Hoả lục cục | Canh giờ khác |
| Can năm: Lộc Tồn | Thân | Thân | Khớp, can năm đúng |
| Tháng: Tả Phù, Hữu Bật | Thân, Ngọ | Thân, Ngọ | Khớp, tháng đúng |
| Giờ: Văn Xương, Văn Khúc | Ngọ, Thân | Tỵ, Dậu | Lệch, đúng như canh giờ khác |
| Cung Mệnh, cục | Dần, Thổ ngũ cục | Sửu, Hoả lục cục | Hệ quả của giờ |
| Tử Vi | Mão | Tỵ | Hệ quả của cục |
Cả loạt khác biệt, từ cung Mệnh, cục tới vị trí mười bốn chính tinh, đều quy về một dữ liệu: giờ sinh ghi "9 giờ" nằm đúng ranh giới hai canh giờ. Người so từng cung sẽ thấy gần như mọi ô đều khác; người so theo nhóm thấy ngay chỉ có một nguyên nhân.
Việc còn lại không thuộc về lá số mà thuộc về giờ sinh: tìm thêm nguồn ghi giờ chính xác hơn, cân nhắc giờ theo kinh độ nơi sinh, rồi chọn một canh giờ và ghi lý do. Dị bản giữa các sách không có vai trò gì trong ca này.
Vì sao so theo nhóm nhanh hơn so từng cung
Cách so quen thuộc là đi từng cung, từ Mệnh, Phụ Mẫu, Phúc Đức… và ghi mọi sao khác nhau. Cách này cho ra một danh sách dài mà không nói gì về nguyên nhân: một lỗi tháng nhuận có thể làm hơn chục sao ở nhiều cung khác nhau cùng dời, và người so sẽ thấy hơn chục "điểm lệch" trong khi thực chất chỉ có một.
So theo nhóm thì ngược lại. Mỗi nhóm trả lời một câu hỏi có hoặc không về một dữ liệu đầu vào. Năm câu hỏi đầu (can năm, chi năm, tháng, giờ, ngày) thường đủ để khoanh nguyên nhân. Khi đã biết dữ liệu nào khác, mọi sao lệch thuộc các nhóm phụ thuộc vào dữ liệu đó đều có lời giải thích, và bạn không cần ghi từng sao một.
Thêm một lợi ích ít người để ý: so theo nhóm không đòi hỏi biết nghĩa của bất kỳ sao nào. Bạn chỉ cần biết sao đó an từ dữ liệu gì. Vì vậy người mới học, người lập trình hay người chỉ muốn kiểm lá số hộ người thân đều làm được, mà không bị cuốn vào lời bàn tốt xấu của từng sao.
Cách này cũng tách được "khác dữ liệu" với "khác quy tắc". Nếu mọi nhóm dữ liệu khớp mà tứ hoá năm Canh vẫn khác, bạn biết chắc đó là quy tắc khác, tức dị bản, không phải dữ liệu nhập sai. Người hay tranh luận "công cụ nào chuẩn" thường lẫn hai loại này với nhau.
Nam phái, Bắc phái và những cái nhãn không đủ rõ
Khi hỏi vì sao hai lá số khác nhau, người ta hay nhận được câu trả lời kiểu "vì một bên theo Nam phái, một bên theo Bắc phái" hoặc "một bên theo lối Việt, một bên theo lối Hoa". Những cái nhãn này không đủ để kiểm. Các nguồn không thống nhất cặp tên Nam phái, Bắc phái chỉ những gì; còn "lối Việt" hay "lối Hoa" cũng không phải một bộ quy tắc cố định, vì sách trong cùng một ngôn ngữ cũng ghi khác nhau ở nhiều điểm.
Cách thay thế là ghi quy ước bằng các điểm cụ thể. Thay vì nói "theo Nam phái", hãy nói "tứ hoá Canh: Âm Khoa, Đồng Kỵ; Khôi Việt Canh: Ngọ – Dần; Hoả Linh chia chiều; giờ Tý tính sang ngày sau; tháng nhuận tính theo tháng trước". Danh sách này dài hơn một cái nhãn, nhưng ai đọc cũng kiểm được, và hai người dùng hai danh sách khác nhau sẽ thấy ngay họ khác ở điểm nào.
Tam hợp, phi tinh và các lối đọc khác thì khác chủ yếu ở cách đọc và ở số sao được dùng, ít khác ở vị trí sao. Lá số theo lối phi tinh có thể thưa sao hơn hẳn, nhưng những sao có mặt thường đứng cùng chỗ với lá số theo lối tam hợp. Thấy một lá số "thiếu sao" chưa phải là lá số sai.
Dòng quy ước nên ghi trên mọi lá số
Một dòng quy ước ngắn ở góc lá số giúp mọi phép so về sau nhanh hơn nhiều. Bảng dưới gợi ý các mục; chỉ cần ghi những mục áp dụng cho người đó.
| Mục | Ghi khi nào | Ví dụ cách ghi |
|---|---|---|
| Mốc năm | Sinh tháng Chạp, tháng Giêng âm lịch | Năm âm lịch tính từ mùng Một Tết |
| Giờ sinh và quy ước giờ Tý | Luôn ghi giờ; quy ước khi sinh 23 giờ đến nửa đêm | 23:30, tính sang ngày sau |
| Tháng nhuận | Sinh trong tháng nhuận | Tính theo tháng trước |
| Tứ hoá | Năm Canh, Nhâm, Mậu hoặc khi dùng tứ hoá theo can cung | Canh: Dương Lộc, Vũ Quyền, Âm Khoa, Đồng Kỵ |
| Khôi Việt | Năm Canh | Canh: Sửu – Mùi |
| Hoả Linh | Luôn ghi | Chia chiều theo âm dương nam nữ |
| Độ sáng | Khi lá số có ghi độ sáng | Năm bậc, chỉ chính tinh, theo bảng của công cụ |
| Tuổi đại vận | Luôn ghi | Tuổi mụ, đổi vận vào Tết |
Ghi đủ các dòng áp dụng mất chưa tới hai phút. Khi đã có, so hai lá số bắt đầu bằng việc so hai dòng quy ước; khác ở đâu thì đã biết sao nào sẽ lệch, không cần dò.
Nếu bạn lập lá số trên AI Huyền Học hay công cụ khác, hãy tự điền dòng quy ước bằng các bước kiểm trong mục này, thay vì tin rằng công cụ dùng quy ước bạn mong đợi.
Câu hỏi thường gặp
Hai lá số khác nhau rất nhiều thì nên bắt đầu từ đâu?
Bắt đầu từ ô giữa lá số: năm, tháng, ngày âm lịch, canh giờ, giới tính, cục. Khác biệt lớn gần như luôn đến từ dữ liệu đầu vào, như ngày âm bị đổi sai hay nhập nhầm giờ, chứ không đến từ khác phái.
Làm sao biết một điểm lệch là dị bản chứ không phải lỗi?
Khi mọi nhóm dữ liệu đều khớp mà một sao vẫn lệch, và điểm lệch đó nằm trong danh sách dị bản đã biết, thì đó là dị bản. Nếu không có trong danh sách, hãy tự an lại sao đó bằng tay theo một nguồn có ghi rõ quy tắc rồi so.
Vì sao không nên dùng nhãn "Nam phái", "Bắc phái" để giải thích?
Vì các nguồn không thống nhất hai tên này chỉ những quy tắc nào, nên nhãn không kiểm được. Ghi từng điểm quy ước cụ thể, như bảng tứ hoá can Canh hay chiều đếm Hoả Linh, thì ai cũng đối chiếu được.
Có cần so toàn bộ hơn trăm sao không?
Không. So theo nhóm dữ liệu, mỗi nhóm chỉ cần một hai sao đại diện. Khi đã biết dữ liệu nào khác hay khớp, mọi sao trong nhóm đó đều theo. Chỉ những sao có dị bản riêng mới cần kiểm từng sao.
Lá số theo lối phi tinh thưa sao có phải là sai không?
Không nhất thiết. Lối phi tinh dùng ít sao hơn và tập trung vào tứ hoá theo can cung. Những sao có mặt thường đứng cùng chỗ với lá số theo lối tam hợp. Hãy so những sao chung của hai lá số, đừng tính các sao một bên không dùng là điểm lệch.
Dòng quy ước có cần ghi khi chỉ lập lá số cho bản thân?
Nên ghi. Vài năm sau bạn có thể dùng công cụ khác, đọc sách khác, hoặc đưa lá số cho người khác xem. Dòng quy ước giúp chính bạn hiểu vì sao lá số mới khác lá số cũ, và tránh lo lắng vô cớ vì một điểm lệch thuần quy ước.