Hoả Tinh và Linh Tinh được an theo chi năm sinh và giờ sinh, và các sách khá thống nhất về cung khởi đầu. Chỗ lệch là chiều đếm: nhiều sách tiếng Hoa cho cả hai sao đếm thuận tới giờ sinh, còn lối phổ biến trong sách tiếng Việt chia chiều theo âm dương nam nữ, sao này đi thuận thì sao kia đi nghịch. Kết quả là trên hai lá số cùng dữ liệu, một trong hai sao có thể đứng ở hai cung khác nhau.
Bài này đặt hai lối cạnh nhau, chỉ ra quy luật giúp bạn đoán trước sao nào sẽ lệch, giờ sinh nào thì hai lối trùng nhau, và cách kiểm lá số trong tay theo lối nào. Mọi ví dụ đều là ví dụ giả định đã tự đếm lại. Bài không bàn ý nghĩa của Hoả, Linh ở cung này hay cung kia. Chọn lối nào là chọn quy ước; lá số lập đúng quy ước không vì thế mà biến lời đoán thành điều có bằng chứng.
Bảng cung khởi đầu: phần các lối giống nhau
Cả hai lối dùng chung bảng khởi sau, chia theo bốn nhóm tam hợp của chi năm sinh. "Khởi" nghĩa là giờ Tý được đặt ở cung đó, rồi đếm từng giờ một tới giờ sinh.
| Chi năm sinh | Hoả Tinh khởi ở | Linh Tinh khởi ở |
|---|---|---|
| Dần, Ngọ, Tuất | Sửu | Mão |
| Thân, Tý, Thìn | Dần | Tuất |
| Tỵ, Dậu, Sửu | Mão | Tuất |
| Hợi, Mão, Mùi | Dậu | Tuất |
Để ý ba nhóm sau đều cho Linh Tinh khởi ở Tuất, chỉ nhóm Dần Ngọ Tuất là khởi ở Mão. Đây là chỗ người chép tay hay nhầm: thấy ba dòng giống nhau rồi chép luôn dòng thứ tư thành Tuất. Nếu bạn tự dựng bảng an sao, hãy kiểm riêng dòng này.
Vì bảng khởi đã thống nhất, mọi khác biệt về Hoả Linh giữa hai lá số cùng dữ liệu chỉ có thể đến từ một trong hai nguồn: chiều đếm, hoặc chi năm và giờ sinh đã bị hiểu khác. Nguồn thứ hai kéo theo nhiều sao khác cùng lệch, nên dễ phân biệt.
Hai lối đếm tới giờ sinh
Bảng dưới tóm hai lối hay gặp. Âm dương ở đây theo can năm sinh: Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là năm dương; Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý là năm âm.
| Người sinh | Lối đếm thuận cả hai | Lối chia chiều (phổ biến trong sách tiếng Việt) |
|---|---|---|
| Dương nam, âm nữ | Hoả thuận, Linh thuận | Hoả thuận, Linh nghịch |
| Âm nam, dương nữ | Hoả thuận, Linh thuận | Hoả nghịch, Linh thuận |
Đặt hai cột cạnh nhau sẽ thấy ngay một quy luật: ở mỗi nhóm người, luôn có một sao được đếm thuận ở cả hai lối. Với dương nam và âm nữ, đó là Hoả Tinh; với âm nam và dương nữ, đó là Linh Tinh. Sao đó đứng cùng một cung trên hai lá số. Chỉ sao còn lại mới có thể lệch.
Nói gọn: khi so hai lá số theo hai lối này, nếu người đó là dương nam hoặc âm nữ thì chỉ cần nhìn Linh Tinh; nếu là âm nam hoặc dương nữ thì chỉ cần nhìn Hoả Tinh. Thấy cả hai sao cùng lệch là dấu hiệu nguyên nhân nằm ở chỗ khác.
Ví dụ giả định: dương nam tuổi Giáp Tý, đủ mười hai giờ
Năm Tý thuộc nhóm Thân Tý Thìn: Hoả khởi Dần, Linh khởi Tuất. Người dương nam nên theo lối chia chiều, Hoả thuận, Linh nghịch; theo lối đếm thuận, cả hai thuận. Hoả Tinh trùng ở mọi giờ nên bảng chỉ ghi một cột.
| Giờ sinh | Hoả Tinh (hai lối như nhau) | Linh Tinh, lối chia chiều | Linh Tinh, lối đếm thuận |
|---|---|---|---|
| Tý | Dần | Tuất | Tuất |
| Sửu | Mão | Dậu | Hợi |
| Dần | Thìn | Thân | Tý |
| Mão | Tỵ | Mùi | Sửu |
| Thìn | Ngọ | Ngọ | Dần |
| Tỵ | Mùi | Tỵ | Mão |
| Ngọ | Thân | Thìn | Thìn |
| Mùi | Dậu | Mão | Tỵ |
| Thân | Tuất | Dần | Ngọ |
| Dậu | Hợi | Sửu | Mùi |
| Tuất | Tý | Tý | Thân |
| Hợi | Sửu | Hợi | Dậu |
Nhìn cột cuối và cột kế cuối: chỉ ở giờ Tý và giờ Ngọ hai lối cho Linh Tinh cùng một cung. Lý do là số học thuần tuý: giờ Tý là bước thứ không, đi chiều nào cũng đứng yên; giờ Ngọ là bước thứ sáu, mà trên vòng mười hai cung thì đi thuận sáu bước hay nghịch sáu bước đều tới cung đối diện. Với mười giờ còn lại, Linh Tinh ở hai lá số khác cung.
Một chi tiết nữa đáng để ý: theo lối chia chiều, sinh giờ Thìn thì Hoả và Linh cùng ở Ngọ, sinh giờ Tuất thì cùng ở Tý. Lá số kiểu này nhìn vào thấy hai sát tinh đứng chung một ô; theo lối đếm thuận thì không có chuyện đó ở hai giờ này.
Âm nam, dương nữ: sao lệch đổi sang Hoả Tinh
Lấy một ví dụ giả định khác: nam tuổi Ất Sửu, tức âm nam. Năm Sửu thuộc nhóm Tỵ Dậu Sửu: Hoả khởi Mão, Linh khởi Tuất. Sinh giờ Mão, tức bước thứ ba tính từ giờ Tý.
Theo lối chia chiều, âm nam thì Hoả nghịch, Linh thuận: Hoả đi từ Mão lùi ba cung tới Tý, Linh đi từ Tuất tiến ba cung tới Sửu. Theo lối đếm thuận: Hoả đi từ Mão tiến ba cung tới Ngọ, Linh vẫn tới Sửu. Vậy Linh Tinh trùng ở Sửu trên cả hai lá số, còn Hoả Tinh đứng ở Tý trên lá số này và ở Ngọ trên lá số kia, hai cung đối nhau.
Ví dụ này khớp đúng quy luật đã nêu: với âm nam, Linh Tinh là sao được đếm thuận ở cả hai lối nên không lệch, chỉ Hoả Tinh lệch. Nếu cũng tuổi Ất Sửu nhưng là nữ, tức âm nữ, thì lối chia chiều cho Hoả thuận, Linh nghịch: Hoả tới Ngọ, Linh từ Tuất lùi ba cung tới Mùi. Lần này Hoả trùng, Linh lệch giữa Mùi và Sửu.
Bạn có thể tự luyện bằng cách chọn một năm, một giờ bất kỳ, đếm cả hai lối trên giấy, rồi so với lá số do công cụ lập. Chỉ cần một lá số mẫu không sinh giờ Tý, giờ Ngọ là đủ để biết công cụ theo lối nào.
Nhận ra lá số trong tay theo lối nào
Lá số hiếm khi ghi chú chiều đếm Hoả Linh. Bạn tự suy ra được bằng các bước sau, chỉ cần biết năm sinh, giới tính và giờ sinh ghi trên ô giữa:
- Kiểm giờ sinh không phải giờ Tý hoặc giờ Ngọ. Nếu đúng là một trong hai giờ này, hai lối cho cùng kết quả, không phân biệt được; muốn kiểm công cụ thì lập thêm một lá số mẫu giờ khác.
- Xác định âm dương nam nữ từ can năm và giới tính. Nếu can năm trên ô giữa khác với năm bạn nghĩ, xử lý chuyện mốc năm trước.
- Tra bảng khởi theo chi năm, đếm thuận từ cung khởi của Hoả Tinh tới giờ sinh và ghi lại; làm tương tự cho Linh Tinh.
- Nếu cả hai sao trên lá số khớp với phép đếm thuận: lá số theo lối đếm thuận cả hai.
- Nếu một sao khớp phép đếm thuận còn sao kia khớp phép đếm nghịch đúng theo bảng chia chiều: lá số theo lối chia chiều.
- Nếu không khớp lối nào, kiểm lại chi năm và canh giờ; có thể lá số dùng mốc năm hoặc giờ khác với bạn nghĩ.
- Ghi lên góc lá số: "Hoả Linh: chia chiều theo âm dương nam nữ" hoặc "Hoả Linh: đếm thuận cả hai".
Bảy bước này mất vài phút và chỉ cần làm một lần cho mỗi công cụ hay mỗi cuốn sách bạn dùng. Ghi kết quả vào sổ tay, lần sau khỏi phải đếm lại.
Viết quy tắc Hoả Linh cho công cụ lập lá số
Nếu bạn lập trình một công cụ lá số hoặc soạn bảng tính tự an sao, quy tắc Hoả Linh nên được viết sao cho lựa chọn chiều đếm hiện ra rõ ràng, không bị chôn trong mã. Mấy gợi ý dưới đây viết bằng lời, không gắn với ngôn ngữ lập trình nào:
- Đánh số mười hai cung từ Tý là 0 tới Hợi là 11, đánh số giờ từ Tý là 0 tới Hợi là 11. Đếm thuận là cộng số giờ vào cung khởi, đếm nghịch là trừ, rồi lấy phần dư khi chia cho 12.
- Tách bảng khởi (bốn nhóm chi năm) thành một bảng dữ liệu riêng, không viết lẫn vào câu lệnh. Bảng khởi là phần các lối thống nhất, nên tách riêng giúp người đọc mã thấy ngay phần nào là quy ước.
- Đặt một tham số tên rõ nghĩa cho chiều đếm, với hai giá trị "đếm thuận cả hai" và "chia chiều theo âm dương nam nữ". Ghi giá trị đang dùng ra ô giữa lá số hoặc phần chú thích.
- Viết sẵn bộ ca thử gồm ít nhất bốn lá số: dương nam, âm nam, dương nữ, âm nữ, mỗi lá số sinh một giờ lẻ như giờ Sửu hay giờ Mão. Ca thử phải có kết quả mong đợi tính tay theo cả hai lối.
- Thêm hai ca thử sinh giờ Tý và giờ Ngọ, kết quả mong đợi của hai lối phải trùng nhau. Nếu công cụ cho hai kết quả khác nhau ở hai giờ này, phép tính chiều đếm đang sai chứ không phải khác lối.
- Thêm một ca thử năm thuộc nhóm Dần Ngọ Tuất để bắt lỗi chép Linh Tinh khởi ở Tuất thay vì ở Mão.
Bộ ca thử nhỏ như vậy rẻ hơn rất nhiều so với việc nhận phản ánh của người dùng sau khi công cụ đã chạy. Nó cũng là tài liệu sống: người tiếp quản công cụ đọc ca thử là biết công cụ theo quy ước nào.
Vì sao điểm lệch này hay bị bỏ qua
Khi so hai lá số, người ta thường nhìn chính tinh và tứ hoá trước, rồi dừng lại khi thấy chúng khớp. Hoả Tinh và Linh Tinh nằm lẫn giữa nhiều phụ tinh khác trong ô, lại thường được ghi bằng chữ nhỏ, nên một sao dời cung rất dễ lọt qua mắt. Chỉ khi ai đó bàn riêng về sát tinh ở cung Mệnh hay cung Thân, chỗ lệch mới lộ ra và gây thắc mắc.
Một lý do nữa là trong ví dụ tự kiểm, người ta hay chọn giờ Tý cho đơn giản. Giờ Tý lại đúng là giờ hai lối trùng nhau, nên ví dụ không bao giờ để lộ điểm lệch. Người tự viết công cụ lập lá số, nếu chỉ thử vài lá số giờ Tý, có thể tin rằng mình đã làm đúng cả hai lối.
Vì vậy, khi viết hướng dẫn, soạn bài học hay kiểm một công cụ, nên có ít nhất một lá số mẫu sinh giờ lẻ như giờ Sửu hay giờ Mão, và có cả nam lẫn nữ, cả năm dương lẫn năm âm. Bốn lá số nhỏ đó đủ để lộ ra lối đếm mà công cụ đang dùng.
Câu hỏi thường gặp
Lối nào an Hoả Tinh, Linh Tinh đúng?
Không có phép thử nào phân xử được. Lối đếm thuận cả hai có trong nhiều sách tiếng Hoa, lối chia chiều theo âm dương nam nữ phổ biến trong sách tiếng Việt. Hãy theo lối của nguồn mình đang học, ghi rõ lên lá số và giữ nhất quán.
Vì sao sinh giờ Tý thì hai lối giống nhau?
Giờ Tý được đặt ngay ở cung khởi, tức là đếm không bước nào, nên thuận hay nghịch đều đứng yên ở cung khởi. Giờ Ngọ cũng trùng vì đi sáu bước theo chiều nào trên vòng mười hai cung cũng tới cung đối diện.
Hai lá số lệch cả Hoả lẫn Linh thì do đâu?
Theo hai lối trên, mỗi người chỉ có một sao có thể lệch. Thấy cả hai cùng lệch thì nhiều khả năng chi năm hoặc canh giờ đã được hiểu khác, ví dụ sinh sát Tết bị tính sang năm khác hoặc giờ sinh giáp ranh bị xếp vào canh giờ khác. Cần kiểm ô giữa lá số trước.
Âm nam là gì?
Là người nam sinh năm có can âm: Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý. Người nam sinh năm can dương (Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm) là dương nam. Tương tự với nữ. Âm dương ở đây là quy ước theo can năm, không nói gì về tính cách hay sức khoẻ.
Có cần nhớ thuộc bảng khởi Hoả Linh không?
Nếu bạn muốn tự kiểm lá số thì nên nhớ, vì bảng chỉ có bốn dòng. Mẹo nhớ là ba nhóm cuối đều cho Linh Tinh khởi ở Tuất, riêng nhóm Dần Ngọ Tuất là Mão; Hoả Tinh khởi lần lượt ở Sửu, Dần, Mão, Dậu theo bốn nhóm.
Nếu sách mình đọc dùng lối khác với công cụ thì làm sao?
Chọn một bên làm quy ước chính. Nếu theo sách, hãy tự đếm lại sao bị lệch và ghi vị trí theo sách lên lá số, kèm chú thích công cụ đặt nó ở đâu. Đừng trộn: đọc lời bàn của sách trên vị trí sao của công cụ sẽ cho kết quả không khớp với chính cuốn sách.