Năm Nhâm, các bản thống nhất Thiên Lương hoá Lộc, Tử Vi hoá Quyền, Vũ Khúc hoá Kỵ; riêng Hoá Khoa có bản ghi Tả Phù, có bản ghi Thiên Phủ. Năm Mậu, các bản thống nhất Tham Lang hoá Lộc, Thái Âm hoá Quyền, Thiên Cơ hoá Kỵ; Hoá Khoa thường ghi Hữu Bật, một số bảng ghi Thái Dương. Hai can, cùng một kiểu lệch: chữ Khoa rơi vào một phụ tinh an theo tháng hay vào một chính tinh.
Bài đặt hai điểm lệch này cạnh nhau vì chúng giống nhau về cấu trúc và cách kiểm. Bài đưa ví dụ giả định đã tự kiểm, chỉ cách nhận ra lá số theo bản nào, và chỉ ra những trường hợp lệch này hoàn toàn không làm thay đổi gì. Bài không bàn ý nghĩa của Hoá Khoa ở từng cung. Như mọi điểm lệch khác, chọn bản nào cũng chỉ là chọn quy ước; lập lá số nhất quán không biến lời đoán thành có bằng chứng.
Bảng tứ hoá can Nhâm và can Mậu
Ba vị trí Lộc, Quyền, Kỵ của hai can này khớp nhau giữa các bản phổ biến. Cột Hoá Khoa ghi cả hai lựa chọn hay gặp; nếu nguồn bạn đang dùng ghi một sao khác nữa, hãy chép đúng tên sao đó và ghi nguồn.
| Can năm | Hoá Lộc | Hoá Quyền | Hoá Khoa | Hoá Kỵ |
|---|---|---|---|---|
| Nhâm | Thiên Lương | Tử Vi | Tả Phù, hoặc Thiên Phủ theo bản khác | Vũ Khúc |
| Mậu | Tham Lang | Thái Âm | Hữu Bật, hoặc Thái Dương theo một số bảng | Thiên Cơ |
Câu tắt hay dùng cho can Nhâm là "Lương Tử Phụ Vũ" (Phụ là Tả Phù) và cho can Mậu là "Tham Âm Bật Cơ" (Bật là Hữu Bật). Người theo bản khác sẽ đổi chữ thứ ba trong câu tắt. Khi đọc một tài liệu, nhìn chữ thứ ba này là biết ngay nó theo bản nào.
Một điều đáng để ý: ở cả hai can, chữ Kỵ không có dị bản trong các bản phổ biến. Nghĩa là nếu hai lá số năm Nhâm hay năm Mậu lệch nhau ở vị trí chữ Kỵ, nguyên nhân không phải dị bản tứ hoá mà phải tìm ở chỗ khác: can năm bị tính sai vì sinh sát Tết, hoặc vị trí sao đã khác từ trước.
Phụ tinh an theo tháng hay chính tinh an theo ngày: vì sao điều này quan trọng
Tả Phù và Hữu Bật là hai phụ tinh an theo tháng sinh âm lịch. Quy tắc thông dụng: Tả Phù khởi tháng Giêng ở cung Thìn, đếm thuận tới tháng sinh; Hữu Bật khởi tháng Giêng ở cung Tuất, đếm nghịch tới tháng sinh. Còn Thiên Phủ và Thái Dương là chính tinh, vị trí phụ thuộc vào cục và ngày sinh qua sao Tử Vi.
Vì hai nhóm sao này được an từ hai loại dữ liệu khác nhau, điểm lệch Hoá Khoa của can Nhâm và can Mậu có một đặc điểm thú vị: nó nhạy với những sai sót khác nhau. Nếu tháng sinh bị nhập sai, chẳng hạn do tháng nhuận được tính khác, thì theo bản dùng Tả Phù hay Hữu Bật, chữ Khoa sẽ dời theo tháng; theo bản dùng chính tinh, chữ Khoa không dời vì chính tinh không phụ thuộc trực tiếp vào tháng. Ngược lại, nếu ngày sinh lệch một ngày làm Tử Vi đổi cung, bản dùng chính tinh sẽ thấy chữ Khoa dời, còn bản dùng phụ tinh thì không.
Hiểu điều này giúp bạn không kết luận vội. Khi hai lá số năm Nhâm lệch chữ Khoa, trước khi nghĩ tới dị bản, hãy xem Tả Phù và Thiên Phủ ở hai lá số có đứng cùng chỗ không. Nếu không, lỗi nằm ở dữ liệu tháng hoặc ngày, không nằm ở bảng tứ hoá.
Ví dụ giả định năm Nhâm: hai chỗ đặt chữ Khoa
Lá số giả định: năm Nhâm Thân, tháng 7 âm lịch, ngày 15, giờ Dậu. Theo quy tắc thông dụng: cung Mệnh ở Hợi (can chi Tân Hợi, nạp âm Kim, Kim tứ cục), cung Thân ở Tỵ; Tử Vi ở Thìn cùng Thiên Tướng, Thiên Phủ ở Tý cùng Vũ Khúc; Tả Phù tháng 7 ở Tuất, đứng cùng Phá Quân.
| Nhãn | Bản dùng Tả Phù | Bản dùng Thiên Phủ |
|---|---|---|
| Hoá Lộc (Thiên Lương) | Tỵ, cung Thân | Tỵ, cung Thân |
| Hoá Quyền (Tử Vi) | Thìn | Thìn |
| Hoá Khoa | Tuất (Tả Phù, cùng Phá Quân) | Tý (Thiên Phủ, cùng Vũ Khúc) |
| Hoá Kỵ (Vũ Khúc) | Tý | Tý |
Ở lá số này, theo bản dùng Thiên Phủ, cung Tý cùng lúc mang cả Hoá Khoa và Hoá Kỵ, vì Thiên Phủ và Vũ Khúc đứng chung. Theo bản dùng Tả Phù, cung Tý chỉ có Hoá Kỵ, còn Hoá Khoa nằm ở Tuất. Người đọc lá số theo hai bản sẽ mô tả cung Tý theo hai cách khác nhau, dù mọi sao đứng y nguyên.
Thiên Phủ và Vũ Khúc chỉ đứng chung khi Tử Vi ở Thìn hoặc Tuất. Với các lá số khác, hai bản Nhâm thường đặt chữ Khoa ở hai cung không liên quan gì tới cung Kỵ.
Ví dụ giả định năm Mậu: Hữu Bật và Thái Dương
Lá số giả định: năm Mậu Thìn, tháng 2 âm lịch, ngày 8, giờ Tý. Theo quy tắc thông dụng: cung Mệnh và cung Thân cùng ở Mão (sinh giờ Tý nên Mệnh Thân đồng cung), can chi Ất Mão, nạp âm Thuỷ, Thuỷ nhị cục; Tử Vi ở Tỵ cùng Thất Sát; Thái Dương ở Dần cùng Cự Môn; Hữu Bật tháng 2 ở Dậu, đứng cùng Liêm Trinh và Phá Quân.
| Nhãn | Bản dùng Hữu Bật | Bản dùng Thái Dương |
|---|---|---|
| Hoá Lộc (Tham Lang) | Sửu | Sửu |
| Hoá Quyền (Thái Âm) | Tý | Tý |
| Hoá Khoa | Dậu (Hữu Bật) | Dần (Thái Dương) |
| Hoá Kỵ (Thiên Cơ) | Thìn | Thìn |
Hai cung Dậu và Dần không đối nhau, không tam hợp với nhau, nên ở lá số này điểm lệch làm chữ Khoa nhảy sang một vùng hoàn toàn khác của lá số. Người so hai lá số sẽ thấy ba chữ Lộc, Quyền, Kỵ trùng khít, chỉ chữ Khoa khác, đúng dấu hiệu của dị bản can Mậu.
Lưu ý cách làm: các vị trí trên được tính lại từng bước, từ cung Mệnh, can cung, nạp âm, cục, tới Tử Vi và hai chòm sao. Bạn có thể tự làm lại để luyện tay, rồi so với lá số do công cụ lập.
Những lá số mà dị bản không đổi gì
Không phải lá số năm Nhâm hay năm Mậu nào cũng bị dị bản Hoá Khoa làm khác đi. Nếu hai sao tranh nhau chữ Khoa tình cờ đứng cùng một cung, thì theo bản nào chữ Khoa cũng nằm ở cung đó. Với can Nhâm, đó là khi Tả Phù đứng cùng cung với Thiên Phủ; với can Mậu, khi Hữu Bật đứng cùng cung với Thái Dương.
Trường hợp này không hiếm. Tả Phù và Hữu Bật mỗi sao chỉ có mười hai vị trí theo mười hai tháng, chính tinh cũng chỉ có mười hai vị trí, nên xác suất hai sao trùng cung là khoảng một phần mười hai nếu coi các vị trí phân bố đều. Nói cách khác, cứ khoảng mười hai lá số năm Nhâm thì có chừng một lá số mà hai bản đặt chữ Khoa ở cùng một chỗ; con số này chỉ là ước lượng thô để hình dung, không phải thống kê.
Hệ quả cũng giống như với can Canh: nếu bạn dùng một lá số mẫu để thử xem công cụ theo bản nào, hãy kiểm trước rằng hai sao tranh chữ Khoa đứng ở hai cung khác nhau. Hai ví dụ ở trên được chọn đúng theo tiêu chí đó: ở lá số năm Nhâm, Tả Phù ở Tuất còn Thiên Phủ ở Tý; ở lá số năm Mậu, Hữu Bật ở Dậu còn Thái Dương ở Dần.
Và một điểm để tránh suy luận sai: hai bản cho cùng một cung Khoa không có nghĩa hai bản "đồng ý" với nhau ở lá số đó. Nếu về sau bạn dùng lối đọc theo can của từng cung hay của đại vận, bộ tứ hoá Nhâm hoặc Mậu sẽ xuất hiện lại ở các tầng khác, nơi hai sao kia không còn trùng cung nữa.
Khoanh điểm lệch Hoá Khoa trong năm phút
Khi có hai lá số năm Nhâm hoặc năm Mậu cho cùng một người và thấy chữ Khoa ở hai cung khác nhau, làm theo thứ tự sau:
- Kiểm can năm trên ô giữa của cả hai lá số. Nếu một bên ghi năm khác, dừng lại; đó là lỗi mốc năm.
- Kiểm ba chữ Lộc, Quyền, Kỵ có nằm ở cùng ba sao và cùng ba cung trên cả hai lá số không. Nếu có chỗ khác, vị trí sao đã lệch từ trước; phải so tháng, ngày, giờ.
- Kiểm vị trí Tả Phù hoặc Hữu Bật trên hai lá số. Nếu khác cung, tháng sinh đã được hiểu khác (thường do tháng nhuận); xử lý điểm đó trước.
- Kiểm vị trí Thiên Phủ hoặc Thái Dương. Nếu khác cung, ngày sinh hoặc cục đã khác; xử lý điểm đó trước.
- Nếu mọi vị trí sao trùng nhau và chỉ chữ Khoa khác, đó đúng là dị bản. Xem chữ Khoa nằm cạnh sao nào ở mỗi lá số và ghi lại.
- Ghi một dòng quy ước ở góc mỗi lá số, ví dụ "Tứ hoá Nhâm: Lương Lộc, Tử Quyền, Phủ Khoa, Vũ Kỵ".
Thứ tự này quan trọng. Phần lớn những lần lệch chữ Khoa mà người dùng gặp không phải vì dị bản mà vì dữ liệu đầu vào khác nhau. Dị bản chỉ được kết luận sau cùng, khi mọi thứ khác đã trùng.
Ghi nguồn khi viết hoặc dạy về hai can này
Khi bạn viết bài, soạn tài liệu học hay đăng một lá số mẫu năm Nhâm, năm Mậu, ghi rõ bảng tứ hoá ngay cạnh lá số. Không cần lập luận bản nào hay hơn, vì người đọc chỉ cần biết để đối chiếu. Nếu bạn biết cuốn sách mình theo ghi bản nào, nêu tên sách; nếu không chắc, ghi "theo bảng thông dụng mà tài liệu này dùng" và liệt kê đủ bốn sao.
Khi dạy người mới, nên dạy bảng tứ hoá kèm luôn ba chỗ có dị bản phổ biến: can Canh ở Khoa và Kỵ, can Nhâm ở Khoa, can Mậu ở Khoa. Người học biết sớm thì về sau gặp lá số khác bảng sẽ không hoang mang, cũng không vội cho rằng nguồn kia "sai".
Còn khi đọc tài liệu của người khác mà thấy bảng tứ hoá không có ghi chú gì về dị bản, đừng tự động coi đó là bảng duy nhất. Hãy so chữ thứ ba trong câu tắt của can Nhâm và can Mậu với các nguồn khác; chỉ mất vài giây mà biết ngay tài liệu đó theo bên nào.
Câu hỏi thường gặp
Năm Nhâm thì Tả Phù hay Thiên Phủ hoá Khoa?
Cả hai đều có trong các bảng được lưu truyền. Không có phép thử nào phân xử bản nào đúng. Hãy theo bảng của nguồn mình đang học, ghi rõ lên lá số và giữ nhất quán. Khi đọc lá số người khác, hỏi họ dùng bảng nào trước khi so lời bàn.
Năm Mậu có những bản tứ hoá nào?
Ba vị trí Lộc ở Tham Lang, Quyền ở Thái Âm, Kỵ ở Thiên Cơ là thống nhất trong các bản phổ biến. Hoá Khoa thường ghi Hữu Bật, một số bảng ghi Thái Dương. Nếu gặp nguồn ghi sao khác nữa, hãy chép lại đúng tên sao và tên nguồn.
Vì sao chữ Khoa nhảy cung khi chỉ sửa tháng sinh?
Nếu lá số theo bản dùng Tả Phù hoặc Hữu Bật, hai sao này an theo tháng sinh nên tháng đổi thì sao dời, kéo theo chữ Khoa. Theo bản dùng chính tinh, sửa tháng sinh không làm chữ Khoa dời trừ khi việc sửa tháng làm thay đổi cung Mệnh, cục và cả chòm chính tinh.
Hai lá số năm Nhâm khác chữ Kỵ thì có phải do dị bản không?
Gần như không. Trong các bản phổ biến, can Nhâm đều cho Vũ Khúc hoá Kỵ. Nếu chữ Kỵ nằm ở hai cung khác nhau, nghĩa là Vũ Khúc đã đứng ở hai cung khác nhau, tức ngày, cục hoặc can năm đã khác. Cần lùi về kiểm dữ liệu đầu vào.
Có nên ghi cả hai bản trên một lá số không?
Có thể, nếu bạn đánh dấu rõ ràng: một bản là quy ước chính, bản kia chỉ là ghi chú. Ví dụ ghi chữ Khoa theo bản chính ngay cạnh sao, và ghi bằng bút chì ở góc lá số rằng theo bản kia chữ Khoa nằm ở cung nào. Đừng ghi hai chữ Khoa ngang hàng.
Dị bản Hoá Khoa có quan trọng bằng dị bản Hoá Kỵ năm Canh không?
Về mặt kỹ thuật, mức độ như nhau: một nhãn đổi chủ. Về mặt người đọc, chữ Kỵ thường được chú ý hơn nên dị bản năm Canh hay gây thắc mắc hơn. Với việc lập lá số cho đúng quy ước, cả ba can đều cần ghi chú như nhau.