Với người sinh từ 23 giờ đến trước 0 giờ, có quy ước giữ nguyên ngày sinh và có quy ước tính sang ngày hôm sau; cả hai đều cho canh giờ Tý. Khi ngày âm lịch lệch một, cung Mệnh, cung Thân và các sao an theo năm, tháng, giờ đứng yên; những sao an theo ngày như Tam Thai, Bát Toạ chắc chắn dời một cung; còn chòm chính tinh dời hay không tuỳ cục và ngày sinh. Hiểu điều này giúp bạn nhìn hai lá số và biết ngay chỗ khác có phải do quy ước giờ Tý hay không.
Chuyện chọn quy ước nào, các trang khác đã bàn; bài này đi vào phần hệ quả trên lá số: sao nào phụ thuộc ngày, khi nào Tử Vi đứng yên dù ngày đổi, và ca đặc biệt khi ngày sinh là ngày cuối tháng. Mọi ví dụ là ví dụ giả định, đã tự tính lại. Dù theo quy ước nào, lá số lập nhất quán cũng chỉ đúng quy tắc; nó không làm lời đoán có thêm bằng chứng.
Sao nào phụ thuộc ngày sinh, sao nào không
Bảng dưới chia các nhóm sao theo dữ liệu chúng cần. Khi ngày âm lệch một mà tháng, năm, giờ giữ nguyên, chỉ nhóm cần ngày mới có thể dời.
| Nhóm sao | Dữ liệu dùng để an | Khi ngày lệch một |
|---|---|---|
| Cung Mệnh, cung Thân | Tháng và giờ sinh | Đứng yên |
| Lộc Tồn, Kình, Đà, Khôi Việt, tứ hoá, Triệt | Can năm | Đứng yên |
| Thiên Mã, vòng Thái Tuế, Tuần | Chi năm (Tuần theo can chi năm) | Đứng yên |
| Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Hình, Thiên Riêu | Tháng sinh | Đứng yên |
| Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp | Giờ sinh | Đứng yên |
| Cục | Can năm và cung Mệnh | Đứng yên |
| Tử Vi và hai chòm chính tinh | Cục và ngày sinh | Dời hoặc đứng yên, tuỳ cục và ngày |
| Tam Thai, Bát Toạ | Ngày sinh, đếm từ Tả Phù và Hữu Bật | Luôn dời một cung |
| Ân Quang, Thiên Quý | Ngày sinh, đếm từ Văn Xương và Văn Khúc | Luôn dời một cung |
Bảng cho thấy quy ước giờ Tý tác động hẹp hơn nhiều người nghĩ. Phần lớn lá số giữ nguyên; chỗ thay đổi tập trung ở bốn sao an theo ngày và, trong một số trường hợp, cả hai chòm chính tinh.
Đây cũng là cách nhận ra nhanh: nếu hai lá số khác nhau ở cung Mệnh hoặc ở các sao an theo năm, tháng, giờ, thì nguyên nhân không phải quy ước giờ Tý.
Khi nào chòm Tử Vi đứng yên dù ngày đã đổi
Vị trí Tử Vi tính từ cục và ngày sinh theo một quy tắc chia: lấy ngày chia cho số cục, nếu không chia hết thì mượn thêm vài đơn vị cho tròn, rồi đi từ cung Dần theo thương số và điều chỉnh tiến hoặc lùi theo số đã mượn. Kết quả là một bảng tra ba mươi ngày cho mỗi cục.
Tự tính lại cả năm bảng sẽ thấy một điều cụ thể: chỉ ở Thuỷ nhị cục mới có những cặp ngày liền nhau cho cùng một vị trí Tử Vi. Ở Thuỷ nhị cục, ngày 2 và ngày 3 cùng cho Tử Vi ở Dần, ngày 4 và ngày 5 cùng ở Mão, cứ thế mỗi ngày chẵn đi cặp với ngày lẻ ngay sau nó. Còn ở Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục, Hoả lục cục, hai ngày liền nhau luôn cho hai vị trí Tử Vi khác nhau.
Hệ quả: với người Thuỷ nhị cục sinh ngày chẵn, nếu quy ước giờ Tý đẩy sang ngày lẻ kế tiếp, chòm chính tinh đứng yên; chỉ Tam Thai, Bát Toạ, Ân Quang, Thiên Quý dời. Với người Thuỷ nhị cục sinh ngày lẻ, đẩy sang ngày chẵn kế tiếp thì Tử Vi dời một cung. Với bốn cục còn lại, đổi ngày luôn kéo cả hai chòm chính tinh sang vị trí khác.
Ví dụ giả định: Thuỷ nhị cục, sinh 23 giờ 30
Lá số giả định: năm Đinh Mão, tháng 6 âm lịch, giờ Tý. Cung Mệnh và cung Thân cùng ở Mùi (can chi Đinh Mùi, nạp âm Thuỷ, Thuỷ nhị cục). Tả Phù tháng 6 ở Dậu, Hữu Bật ở Tỵ. Bảng so hai ca: ngày ghi trên giấy là 14 hoặc là 15, và quy ước giờ Tý đẩy sang ngày kế tiếp.
| Mục | Ngày 14 giữ nguyên | Đẩy sang ngày 15 | Ngày 15 giữ nguyên | Đẩy sang ngày 16 |
|---|---|---|---|---|
| Cung Mệnh, cung Thân | Mùi | Mùi | Mùi | Mùi |
| Tử Vi | Thân (cùng Thiên Phủ) | Thân | Thân | Dậu |
| Tam Thai | Tuất | Hợi | Hợi | Tý |
| Bát Toạ | Thìn | Mão | Mão | Dần |
Ở ca thứ nhất (ngày 14), đổi quy ước giờ Tý không làm chính tinh nào dời; người so hai lá số chỉ thấy Tam Thai và Bát Toạ khác chỗ, cùng Ân Quang, Thiên Quý. Ở ca thứ hai (ngày 15), Tử Vi dời từ Thân sang Dậu và kéo theo toàn bộ mười bốn chính tinh, nên hai lá số trông khác hẳn nhau ở mọi cung trừ những sao an theo năm, tháng, giờ.
Tam Thai khởi từ cung Tả Phù coi là ngày mùng Một rồi đếm thuận tới ngày sinh; Bát Toạ khởi từ cung Hữu Bật đếm nghịch. Vì thế mỗi ngày lệch kéo hai sao này đi một cung theo hai chiều ngược nhau, một dấu hiệu rất dễ nhận.
Ca cần cẩn thận: sinh đêm ngày cuối tháng
Mọi phân tích ở trên giả định tháng không đổi khi ngày đổi. Điều đó sai trong một ca: người sinh từ 23 giờ của ngày cuối tháng âm lịch, tức ngày 29 của tháng thiếu hoặc ngày 30 của tháng đủ. Theo quy ước đẩy sang ngày hôm sau, ngày sinh thành mùng Một của tháng kế tiếp.
Lúc này tháng sinh đổi, và mọi sao an theo tháng cũng đổi: cung Mệnh, cung Thân dời một cung, kéo theo can cung Mệnh, có thể cả cục, rồi cả hai chòm chính tinh; Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Hình, Thiên Riêu cũng dời. Hai lá số theo hai quy ước gần như là hai lá số khác hẳn. Nếu tháng kế tiếp là tháng nhuận, hoặc ngày đó là ngày cuối năm âm lịch, việc xử lý còn phức tạp hơn và phụ thuộc thêm quy ước tháng nhuận, mốc năm; các trường hợp này cần xem riêng trong phần bàn về tháng nhuận và ca giáp ranh.
Vì vậy, khi gặp người sinh khoảng 23 giờ, việc đầu tiên là tra xem ngày sinh có phải ngày cuối tháng âm lịch không. Tháng thiếu có 29 ngày, tháng đủ có 30 ngày, và một tháng âm lịch cụ thể là thiếu hay đủ thì phải tra lịch của đúng năm đó, không suy đoán được.
Hai ranh giới chồng lên nhau quanh 23 giờ
Người sinh quanh 23 giờ thường gặp không chỉ một mà hai câu hỏi cùng lúc. Câu thứ nhất là ranh giới canh giờ: sinh 22 giờ 55 là cuối giờ Hợi, sinh 23 giờ 05 là đầu giờ Tý. Câu thứ hai mới là quy ước giờ Tý đổi ngày hay không. Nếu giờ ghi trên giấy đã được làm tròn, chẳng hạn ghi "23 giờ" trong khi thực tế là khoảng 22 giờ 50, thì lá số có thể sai cả canh giờ trước khi kịp bàn tới chuyện đổi ngày.
Hai câu hỏi tạo ra những điểm lệch khác nhau, nên tách được. Sai canh giờ Hợi – Tý làm cung Mệnh, cung Thân, Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp dời cung, vì đó là các thứ an theo giờ. Khác quy ước giờ Tý thì những thứ đó đứng yên, chỉ nhóm an theo ngày dời. Nhìn nhóm nào dời là biết đang đối mặt với câu hỏi nào.
Ngoài ra còn câu hỏi giờ đồng hồ hay giờ theo kinh độ nơi sinh, và giờ chuẩn nơi sinh trong năm đó là gì. Những câu này thuộc phần giờ sinh và múi giờ, cần giải quyết trước khi bàn tới giờ Tý. Thứ tự hợp lý: chốt giờ sinh thật, chốt canh giờ, rồi mới chọn quy ước đổi ngày.
Ghi quy ước giờ Tý lên lá số và vào công cụ
Quy ước giờ Tý là thứ dễ ghi nhất mà cũng hay bị quên nhất. Mấy gợi ý:
- Trên lá số: ghi giờ sinh theo dạng 24 giờ kèm phút, ví dụ "23:30", và một cụm ngắn "giữ ngày" hoặc "tính sang ngày sau". Đừng chỉ ghi "giờ Tý", vì giờ Tý trải trên hai ngày.
- Trong sổ ghi chép: nếu bạn lập lá số cho nhiều người, thêm một cột quy ước giờ Tý cho những ai sinh từ 23 giờ đến nửa đêm.
- Trong công cụ: để quy ước là một lựa chọn có tên rõ ràng, hiện ngay trên màn hình nhập khi giờ sinh rơi vào khoảng 23 giờ, thay vì giấu trong phần cài đặt.
- Ca thử cho công cụ: một người Thuỷ nhị cục sinh ngày chẵn (chòm chính tinh phải đứng yên), một người Thuỷ nhị cục sinh ngày lẻ (Tử Vi phải dời), một người cục khác (Tử Vi phải dời), một người sinh đêm ngày cuối tháng (tháng phải đổi).
Bốn ca thử đó phủ hết các tình huống bài đã nêu, và mỗi ca có kết quả mong đợi tính tay được bằng bảng Tử Vi theo cục và ngày.
Dò điểm lệch do quy ước giờ Tý trên hai lá số
Khi có hai lá số cho cùng một người sinh từ 23 giờ đến nửa đêm, làm lần lượt:
- So ngày âm lịch trên ô giữa. Nếu hai bên lệch đúng một ngày và canh giờ đều là Tý, nghi quy ước giờ Tý. Nếu lệch nhiều hơn, tìm lỗi đổi lịch.
- So tháng âm lịch. Nếu tháng cũng khác, kiểm xem ngày gốc có phải ngày cuối tháng không.
- So cung Mệnh. Nếu tháng giống nhau mà cung Mệnh khác, nguyên nhân không phải quy ước giờ Tý; kiểm lại giờ sinh.
- So Tam Thai và Bát Toạ. Theo quy ước giờ Tý, hai sao này phải dời đúng một cung theo hai chiều ngược nhau.
- So vị trí Tử Vi. Nếu dời, đối chiếu với bảng Tử Vi theo cục và ngày để xác nhận; nếu đứng yên, kiểm xem đó có phải ca Thuỷ nhị cục ngày chẵn không.
- Ghi lên góc lá số quy ước đã dùng, ví dụ "Sinh 23 giờ 30, tính sang ngày hôm sau".
Nếu cả sáu bước khớp với những gì bài mô tả, bạn đã khoanh được điểm lệch. Hai lá số khác nhau vì một quy ước có thật trong truyền thống, không vì công cụ nào lỗi. Nếu có bước không khớp, lỗi nằm ở chỗ khác và cần tìm tiếp. Bạn có thể dùng chính lá số trên AI Huyền Học để luyện: lập hai lá số với hai ngày liền nhau, giờ Tý, rồi làm sáu bước trên.
Câu hỏi thường gặp
Sinh 23 giờ 15 thì cung Mệnh có đổi theo quy ước không?
Không, nếu tháng không đổi. Cung Mệnh an theo tháng và canh giờ, mà cả hai quy ước đều cho canh giờ Tý. Chỉ khi ngày sinh là ngày cuối tháng âm lịch và quy ước đẩy sang mùng Một tháng sau thì tháng đổi, cung Mệnh mới dời.
Vì sao Tam Thai và Bát Toạ luôn dời khi ngày đổi?
Hai sao này đếm theo ngày sinh: Tam Thai từ cung Tả Phù đếm thuận, Bát Toạ từ cung Hữu Bật đếm nghịch, mỗi ngày một cung. Ngày lệch một thì hai sao dời một cung theo hai chiều ngược nhau, không có ngoại lệ trong cùng tháng.
Tại sao chỉ Thuỷ nhị cục mới có ngày liền nhau cùng vị trí Tử Vi?
Khi chia ngày cho số cục, Thuỷ nhị cục chia cho hai nên mỗi ngày chẵn và ngày lẻ ngay sau nó, nhờ phần điều chỉnh tiến lùi, rơi vào cùng một cung. Với các cục chia cho ba, bốn, năm, sáu, phần điều chỉnh làm hai ngày liền nhau luôn cách nhau ít nhất một cung. Bạn có thể tự lập lại năm bảng để thấy.
Quy ước nào phổ biến hơn?
Mỗi nguồn có lựa chọn riêng và nhiều công cụ cho người dùng chọn. Điều quan trọng không phải phổ biến hay không mà là ghi rõ quy ước đã dùng lên lá số, để người đọc sau biết vì sao lá số của họ có thể khác.
Sinh đúng 0 giờ 05 thì có bị ảnh hưởng không?
Theo cả hai quy ước, sau nửa đêm đã là ngày mới và vẫn trong canh giờ Tý, nên ngày sinh không còn tranh cãi. Chỉ khoảng từ 23 giờ đến trước 0 giờ mới chịu ảnh hưởng của quy ước giờ Tý. Tuy vậy, giờ ghi trên giấy có thể đã làm tròn, nên vẫn nên kiểm.
Có nên lập cả hai lá số để chọn?
Lập cả hai để hiểu điểm lệch thì tốt. Nhưng đừng chọn lá số theo lời luận dễ nghe hơn. Chọn quy ước trước, dựa trên nguồn mình học, rồi giữ nhất quán. Lá số còn lại chỉ để làm ghi chú đối chiếu.