TuViChinhXac.comTử Vi Chính Xác
Đọc lá số như một hệ ký hiệu

Chép lá số giấy sang bảng 12 dòng để đối chiếu: mẫu cột và cách chép không sót

Lá số giấy khó so, khó tìm, dễ mủn. Chép sang bảng 12 dòng theo cột cố định giúp đối chiếu với bản lập lại. Mẫu cột, thứ tự chép và cách xử lý chữ khó đọc.

Side view of a laptop with a dark screen beside an old folded paper sheet and an open blank notebook, hands typing, quiet room in Bac Ninh, evening lamp light

Chép một lá số giấy sang bảng mười hai dòng, mỗi dòng một cung, mỗi cột một lớp ký hiệu, là cách đơn giản nhất để đối chiếu nó với một bản lập lại, tìm sao nhanh, và giữ được nội dung khi tờ giấy cũ đã mủn. Việc chép không khó, nhưng chép sót hoặc chép "sửa cho đúng" là hai lỗi rất hay gặp.

Bài đưa ra mẫu cột, thứ tự chép, cách xử lý chữ khó đọc, và một bảng mẫu đầy đủ cho lá số giả định đã được tự tính lại. Việc chép làm bằng tay, trên giấy kẻ bảng hoặc trên một bảng tính bất kỳ.

Vì sao nên chép sang bảng

Lá số giấy được thiết kế để nhìn tổng thể: mười hai ô xếp quanh ô giữa, cung đối diện nằm đối diện, cung tam hợp tạo thành tam giác. Cách trình bày đó tiện cho người đọc quen, nhưng bất tiện khi cần so sánh. Muốn so hai lá số, bạn phải nhảy mắt qua lại giữa hai khung, và ô nào chật chữ thì càng dễ bỏ sót.

Bảng mười hai dòng làm ngược lại: mỗi cung một dòng, mỗi lớp ký hiệu một cột. So hai lá số chỉ cần đặt hai bảng cạnh nhau, hoặc thêm một cột "bản lập lại" bên cạnh mỗi cột gốc. Tìm một sao chỉ cần dò một cột. Đếm sao theo nhóm, kiểm các cặp đối xứng cũng dễ hơn nhiều khi các ký hiệu cùng loại nằm thẳng hàng.

Còn một lý do thực tế: nhiều lá số giấy trong gia đình đã ố, nhoè, rách mép. Một bản chép cẩn thận giữ lại được nội dung, kể cả những ghi chú bên lề, trước khi tờ giấy hỏng thêm. Có những chữ hôm nay còn đọc được, vài năm nữa sẽ nhoè hẳn. Bản chép không thay được bản gốc, nhưng giúp bản gốc ít phải mở ra hơn, ít bị gấp mở, ít bị ánh sáng và tay người làm mòn thêm.

Mẫu cột cho bảng mười hai dòng

Thứ tự cột dưới đây đi theo các lớp ký hiệu, từ cố định tới thay đổi. Có thể bớt cột nếu lá số gốc không có lớp đó, nhưng nên giữ thứ tự.

  • Chi: Tý tới Hợi, mười hai dòng theo thứ tự cố định. Đừng sắp theo thứ tự cung chức năng, vì khi so hai lá số có cung Mệnh khác nhau, các dòng sẽ lệch.
  • Can cung: chép đúng như bản gốc ghi.
  • Cung chức năng: Mệnh, Phụ Mẫu… và đánh dấu riêng cung Thân.
  • Số đại vận: chép nguyên dạng, một số hay khoảng tuổi.
  • Chính tinh: tên sao, ký hiệu độ sáng như bản gốc, dấu hoá nếu gắn với sao đó.
  • Phụ tinh: chép hết, giữ thứ tự như bản gốc; nếu muốn tách nhóm thì làm ở bản phụ, đừng làm ở bản chép đầu tiên.
  • Vòng sao: Tràng Sinh, Bác Sĩ, Thái Tuế, mỗi vòng một cột nếu bản gốc có.
  • Tuần, Triệt: ghi ở cả hai dòng mà dấu nằm giữa, kèm chú thích là cùng một dấu.
  • Ghi chú: chữ khó đọc, chữ viết thêm sau, vết tẩy, mọi điều bạn thấy mà không chắc.

Ngoài mười hai dòng, thêm một khối đầu bảng chép nguyên ô giữa: ngày giờ sinh, năm can chi, âm dương nam nữ, bản mệnh, cục, mọi dòng khác. Và một khối cuối bảng ghi quy ước đã biết, nguồn của tờ lá số, ngày chép, người chép.

Thứ tự chép để không sót

Chép theo lớp ít sót hơn chép theo ô. Các bước dưới đây tách việc chép khỏi việc kiểm, để mắt không phải làm hai việc một lúc.

  1. Chụp ảnh rõ tờ lá số trước khi chép, dưới ánh sáng đều, không bóng. Ảnh dùng để phóng to những chữ nhỏ và để đối chiếu sau này.
  2. Chép ô giữa vào khối đầu bảng, chữ nào chép chữ ấy, kể cả chữ viết tắt.
  3. Chép lớp chi, can, cung chức năng, số đại vận cho đủ mười hai dòng.
  4. Chép chính tinh cho đủ mười hai dòng. Đếm: phải đủ mười bốn sao.
  5. Chép phụ tinh từng ô một, từ Tý tới Hợi. Ô nào chép xong thì đánh dấu trên ảnh.
  6. Chép các vòng sao và Tuần, Triệt.
  7. Đọc lại toàn bộ bảng so với ảnh, theo chiều ngược lại, từ Hợi về Tý. Đọc ngược giúp mắt không trượt theo thói quen.

Chỉ sau khi chép xong mới bắt đầu kiểm: chạy các phép thử về quan hệ, đếm sao theo nhóm, so với bản lập lại. Chép và kiểm cùng lúc là con đường ngắn nhất dẫn tới chép "sửa cho đúng".

Bảng mẫu: lá số giả định đã chép

Ví dụ giả định: nam, năm Đinh Mão, tháng mười một âm lịch, ngày bốn, giờ Tuất. Ô giữa: âm nam, bản mệnh Lô Trung Hoả, Kim tứ cục. Bảng chỉ chép chính tinh và các phụ tinh trong nhóm bắt buộc để gọn; dấu hoá theo can Đinh.

ChiCanCungĐại vậnChính tinhPhụ tinh
TýNhâmPhu Thê24Phá QuânVăn Xương, Hữu Bật
SửuQuýHuynh Đệ14Thiên Cơ (Hoá Khoa)Địa Không
DầnNhâmMệnh4Tử Vi, Thiên PhủVăn Khúc, Tả Phù; Triệt Dần – Mão
MãoQuýPhụ Mẫu114Thái Âm (Hoá Lộc)Thái Tuế; Triệt Dần – Mão
ThìnGiápPhúc Đức104Tham Langkhông có trong nhóm bắt buộc
TỵẤtĐiền Trạch94Cự Môn (Hoá Kỵ)Đà La, Thiên Mã, Tràng Sinh
NgọBínhQuan Lộc84Liêm Trinh, Thiên TướngLộc Tồn
MùiĐinhNô Bộc74Thiên LươngKình Dương
ThânMậuThiên Di64Thất Sátkhông có trong nhóm bắt buộc
DậuKỷTật Ách54Thiên Đồng (Hoá Quyền)Địa Kiếp
TuấtCanhTài Bạch (cung Thân)44Vũ KhúcTuần Tuất – Hợi
HợiTânTử Tức34Thái DươngTuần Tuất – Hợi

Trên bảng này, các phép thử chạy rất nhanh. Can ô Tý (Nhâm) trùng can ô Dần, can ô Sửu (Quý) trùng can ô Mão. Tử Vi và Thiên Phủ cùng ở Dần, tổng số thứ tự 2 cộng 2 bằng 4. Thất Sát ở Thân đối diện Thiên Phủ ở Dần; Phá Quân ở Tý đối diện Thiên Tướng ở Ngọ. Kình Dương ở Mùi, Đà La ở Tỵ, kẹp Lộc Tồn ở Ngọ. Giờ Tuất nên cung Thân ở Tài Bạch. Kim tứ cục nên Mệnh ghi 4, âm nam nên số tăng theo chiều nghịch, cung Thiên Di đối diện ghi 64.

Chữ khó đọc, chữ viết tắt và chữ Hán

Không đoán khi chép. Chữ nào không đọc được thì ghi dấu hỏi và mô tả hình dạng, ví dụ "? hai chữ, chữ đầu giống Thiên". Đoán rồi chép như chắc chắn là cách nhanh nhất làm hỏng một bản chép.

Giữ chữ viết tắt nguyên dạng. Nhiều lá số viết tắt tên sao hoặc ký hiệu độ sáng bằng một hai chữ cái. Chép nguyên dạng vào cột chính, giải nghĩa ở cột ghi chú nếu biết chắc. Các người lập khác nhau có lối viết tắt khác nhau.

Chữ Hán: chép tên đọc được, ghi chú chữ gốc. Lá số cũ có khi ghi tên cung và tên sao bằng chữ Hán. Nếu đọc được, ghi tên âm Hán Việt vào cột chính, chép lại hoặc chụp riêng chữ gốc ở cột ghi chú. Nếu không đọc được, nhờ người biết chữ Hán đọc và ghi tên người đọc giúp.

Ghi chú phần viết thêm sau. Nét mực khác màu, chữ viết khác tay, chữ chèn vào chỗ chật thường là phần thêm sau. Chép cả, nhưng đánh dấu để người đọc biết lớp nào là bản gốc.

Giữ bản gốc và bản chép cho bền

Chép xong không có nghĩa là bản gốc hết vai trò. Mấy việc dưới đây giúp cả hai bản cùng dùng được lâu.

  • Cất bản gốc phẳng, khô, tránh nắng: kẹp giữa hai tờ giấy sạch trong một bìa cứng, không gấp thêm nếp mới, không dán băng dính lên chỗ rách.
  • Giữ ảnh chụp cùng bản chép: ảnh là bằng chứng bản gốc trông thế nào lúc chép; sau này nếu bản chép có chỗ nghi ngờ, mở ảnh ra xem thay vì mở tờ giấy.
  • Ghi tên và ngày lên bản chép: ai chép, chép ngày nào, từ bản gốc nào. Một gia đình có thể có nhiều bản chép qua nhiều năm.
  • Không thay bản gốc bằng bản chép khi trao lại: nếu lá số cần đưa cho người khác xem, đưa bản chép và ảnh, giữ bản gốc ở nhà.
  • Cập nhật bản chép khi có thông tin mới: người thân nhớ ra giờ sinh chính xác hơn, tìm thấy giấy tờ cũ, nhờ người đọc được chữ Hán; ghi bổ sung vào cột ghi chú, kèm ngày.

Với nhiều gia đình, tờ lá số cũ là một trong ít giấy tờ còn lại có nét chữ của người đi trước. Giữ nó cẩn thận là giữ một kỷ vật, độc lập với việc mỗi người tin tử vi tới đâu.

Đối chiếu với bản lập lại

Khi đã có bảng chép, lập lại lá số từ cùng dữ liệu sinh và chép bản mới vào cùng mẫu cột. Bạn có thể lập tay theo quy tắc, hoặc lập lá số trên AI Huyền Học rồi chép kết quả vào bảng; với bản nào cũng nên chạy các phép thử kiểm lá số trước khi so. Sau đó thêm một cột "khớp hay lệch" cho từng lớp.

Chỗ lệch nên được phân loại chứ không sửa ngay: lệch do bản gốc chép sót, lệch do hai bản theo hai quy ước, lệch do dữ liệu đầu vào khác nhau, hay chưa rõ. Một bảng đối chiếu có cột phân loại là tài liệu rất có ích khi cần hỏi người lập bản gốc, hoặc khi chính bạn quay lại sau vài năm.

Bảng chép và bảng đối chiếu chỉ làm việc với ký hiệu. Lá số đúng từng ô chỉ cho biết phép tính nhất quán; lập đúng lá số không làm lời đoán thành có bằng chứng. Với lá số cũ của người thân, giá trị của việc chép cẩn thận nhiều khi nằm ở chỗ giữ lại được nét chữ, những dòng ghi bên lề và câu chuyện của gia đình quanh tờ giấy ấy.

Câu hỏi thường gặp

Nên sắp mười hai dòng theo chi hay theo cung chức năng?

Theo chi, từ Tý tới Hợi. Chi là thứ cố định trên mọi lá số, còn cung chức năng phụ thuộc vị trí Mệnh. Sắp theo chi thì hai lá số của cùng người dù khác cung Mệnh vẫn thẳng hàng để so.

Chép trên giấy hay trên máy thì tốt hơn?

Cách nào cũng được, miễn giữ đúng mẫu cột. Bảng tính trên máy tiện cho việc thêm cột so sánh và tìm kiếm; giấy kẻ bảng tiện cho người quen viết tay. Quan trọng là chép theo lớp và đọc lại theo chiều ngược.

Có nên sửa luôn chỗ sai khi chép không?

Không. Bản chép đầu tiên phải phản ánh đúng bản gốc, kể cả chỗ sai. Sửa thì làm ở một bản khác hoặc một cột khác, ghi rõ căn cứ. Như vậy người sau luôn biết bản gốc thật sự ghi gì.

Lá số gốc có quá nhiều tạp tinh, có cần chép hết không?

Nên chép hết ở bản đầu tiên vì không biết trước sao nào sẽ cần khi đối chiếu. Nếu muốn bản gọn để đọc, tạo một bản phụ chỉ giữ chính tinh và các nhóm bắt buộc, nhưng giữ bản đầy đủ.

Chép xong làm sao biết mình không sót?

Đếm theo nhóm: đủ mười bốn chính tinh, đủ các cặp Xương Khúc, Tả Hữu, Không Kiếp, đủ Lộc Tồn, Kình, Đà, đủ bốn dấu hoá, mỗi dòng có một sao của mỗi vòng nếu bản gốc có vòng. Rồi đọc lại toàn bộ bảng so với ảnh theo chiều ngược.

Có nên chia sẻ bảng chép lá số lên mạng để hỏi không?

Lá số gắn với ngày giờ sinh, là dữ liệu cá nhân. Nếu muốn hỏi về kỹ thuật lập, hãy bỏ tên và các chi tiết nhận diện, hoặc dùng một lá số giả định có cùng điểm cần hỏi. Với lá số của người khác, nên hỏi ý họ trước.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183