Một tờ lá số tử vi có thể được kiểm như kiểm một phép tính: quy tắc an sao tạo ra những quan hệ cố định giữa các ô, và nếu một quan hệ bị phá thì gần như chắc chắn có chỗ nhập sai, chép sai hoặc lập theo quy ước khác. Mười phép thử dưới đây không cần học luận giải, chỉ cần biết đếm mười hai chi và đọc được tên sao.
Bài dành cho người được ai đó đưa một tờ lá số, người cầm hai bản in khác nhau của cùng ngày giờ sinh, và người tự lập bằng tay muốn soát lại. Mỗi phép thử đi kèm quy tắc gốc và lỗi hay gặp. Ví dụ trong bài là lá số giả định, không phải của người thật.
Vì sao nên kiểm lá số trước khi đọc bất cứ điều gì
Một lá số đi qua nhiều tay trước khi tới bạn. Ngày giờ sinh được ai đó nhớ lại, được đổi từ dương lịch sang âm lịch, được nhập vào một công cụ hoặc được một người lập tay, rồi có khi được chép lại thêm một lần nữa lên giấy. Mỗi bước là một chỗ có thể lệch: gõ nhầm tháng, chọn nhầm giới tính, đếm nhầm một cung, chép sót một sao vì ô đã chật chữ.
Lỗi trên lá số ít khi lộ ra bằng mắt thường. Tờ giấy vẫn đủ mười hai ô, ô nào cũng kín tên sao, nhìn rất "chuyên nghiệp". Chỉ khi đặt các ô cạnh nhau và hỏi "theo quy tắc thì sao này phải nằm ở đâu so với sao kia" thì chỗ hỏng mới hiện ra. Đó là lý do bài này đi theo các quan hệ chứ không đi theo từng sao riêng lẻ: một quan hệ bị phá cho biết ngay khu vực cần soát lại.
Cũng cần nói rõ phạm vi. Mười phép thử chỉ trả lời câu hỏi "lá số này có nhất quán với dữ liệu và quy tắc đã chọn hay không". Chúng không trả lời câu hỏi lá số có nói đúng về đời người hay không. Một lá số lập đúng từng ô vẫn chỉ là một bảng ký hiệu; lập đúng lá số không làm lời đoán dựa trên nó trở thành có bằng chứng. Tách bạch hai việc này giúp bạn đọc tử vi như đọc một hệ quy ước văn hoá, tỉnh táo và không lo lắng vô cớ.
Chuẩn bị trước khi kiểm: năm thứ cần có trong tay
Phần lớn các phép thử làm được trong đầu, nhưng có sẵn mấy thứ sau thì nhanh và ít nhầm hơn nhiều.
- Dữ liệu sinh như đã nhập: năm can chi, tháng và ngày âm lịch, giờ sinh theo mười hai chi, giới tính. Nếu tờ lá số có ô giữa ghi các thông tin này thì chép lại ra giấy riêng.
- Thứ tự mười hai chi đánh số: Tý 0, Sửu 1, Dần 2, Mão 3, Thìn 4, Tỵ 5, Ngọ 6, Mùi 7, Thân 8, Dậu 9, Tuất 10, Hợi 11. Đếm "thuận" là đi theo chiều số tăng, "nghịch" là chiều số giảm, quá 11 thì quay về 0.
- Hình dung khung lá số: trên lá số kiểu phổ biến, hàng trên từ trái sang là Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân; cột phải xuống là Dậu, Tuất; hàng dưới từ phải sang là Hợi, Tý, Sửu, Dần; cột trái lên là Mão, Thìn. Đi thuận là đi theo chiều kim đồng hồ.
- Mười dòng ghi kết quả: một tờ nháp kẻ sẵn mười dòng, mỗi dòng ghi "qua", "không qua" hoặc "không kiểm được" kèm lý do ngắn.
- Tên bản quy tắc nếu biết: lá số lập theo sách nào, công cụ nào, phái nào. Không biết cũng được, nhưng khi một phép thử không qua thì đây là câu hỏi đầu tiên cần đặt ra.
Đừng kiểm trên bản gốc duy nhất của gia đình. Chụp ảnh hoặc chép ra bản khác rồi hãy đánh dấu, để tờ giấy cũ còn nguyên cho lần đối chiếu sau.
Năm phép thử đầu: bộ khung chính tinh, cung Thân và can cung
Năm phép thử này kiểm phần xương sống của lá số. Chúng dựa trên những quy tắc mà các sách phổ biến ở Việt Nam ghi giống nhau.
- Đủ mười bốn chính tinh, mỗi sao đúng một lần. Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân. Thiếu một sao hay một sao xuất hiện hai lần là lỗi chép, không có dị bản nào như vậy.
- Tử Vi và Thiên Phủ đối xứng qua trục Dần – Thân. Lấy số của cung Tử Vi cộng số của cung Thiên Phủ, kết quả phải bằng 4 hoặc 16. Tử Vi ở Dần thì Thiên Phủ cũng ở Dần; Tử Vi ở Mão thì Thiên Phủ ở Sửu; Tử Vi ở Ngọ thì Thiên Phủ ở Tuất.
- Thất Sát luôn ở cung đối diện Thiên Phủ, Phá Quân luôn đối diện Thiên Tướng. Hai cung đối diện cách nhau đúng sáu bước. Đây là hệ quả của cách an chòm Thiên Phủ đi thuận: Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát liền nhau, cách ba cung rồi tới Phá Quân.
- Cung Thân nằm đúng chỗ theo giờ sinh. Giờ Tý, Ngọ: Thân cùng cung với Mệnh. Giờ Sửu, Mùi: Thân ở cung Phúc Đức. Giờ Dần, Thân: Quan Lộc. Giờ Mão, Dậu: Thiên Di. Giờ Thìn, Tuất: Tài Bạch. Giờ Tỵ, Hợi: Phu Thê.
- Can của cung Tý trùng can của cung Dần, can cung Sửu trùng can cung Mão. Can cung được khởi từ Dần theo can năm rồi đi thuận mười hai cung; vì mười can chỉ đủ cho mười cung, hai cung cuối là Tý và Sửu lặp lại can của Dần và Mão.
Năm phép thử này qua cả thì bộ khung ít khả năng sai do chép. Nếu phép thử 2 hoặc 3 hỏng, gần như chắc chắn có sao bị chép nhầm ô; nếu phép thử 4 hỏng, giờ sinh trên lá số và giờ sinh dùng để an sao không phải là một.
Năm phép thử sau: sao theo năm, đại vận, Tuần và Triệt
Năm phép thử tiếp theo kiểm các sao an theo can, chi năm sinh và phần vận. Có một điểm cần nhớ: phép thử 9 và 10 phụ thuộc quy ước nhiều hơn năm phép thử đầu.
- Thái Tuế nằm ở cung mang chi năm sinh. Sinh năm Tý thì Thái Tuế ở ô Tý, sinh năm Mão thì ở ô Mão. Vòng Thái Tuế khởi đúng tại chi năm.
- Lộc Tồn bị kẹp giữa Kình Dương và Đà La, Bác Sĩ cùng ô với Lộc Tồn. Kình Dương ở cung ngay sau Lộc Tồn theo chiều thuận, Đà La ở cung ngay trước. Lộc Tồn theo can năm: Giáp ở Dần, Ất ở Mão, Bính và Mậu ở Tỵ, Đinh và Kỷ ở Ngọ, Canh ở Thân, Tân ở Dậu, Nhâm ở Hợi, Quý ở Tý.
- Số đại vận ở cung Mệnh bằng số cục, các cung kế tiếp cách nhau 10. Thuỷ nhị cục ghi 2, Mộc tam cục 3, Kim tứ cục 4, Thổ ngũ cục 5, Hoả lục cục 6. Cục ghi ở ô giữa và con số ở cung Mệnh mà khác nhau là có một trong hai chỗ sai.
- Chiều đại vận đúng với âm dương và giới tính. Can Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là năm dương; Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý là năm âm. Dương nam và âm nữ: số đại vận tăng theo chiều thuận. Âm nam và dương nữ: tăng theo chiều nghịch.
- Tuần và Triệt mỗi dấu nằm vắt giữa hai cung liền nhau, Triệt đúng theo can năm. Năm Giáp hoặc Kỷ: Triệt ở Thân – Dậu. Ất hoặc Canh: Ngọ – Mùi. Bính hoặc Tân: Thìn – Tỵ. Đinh hoặc Nhâm: Dần – Mão. Mậu hoặc Quý: Tý – Sửu.
Có bản lá số không in vòng Bác Sĩ, có bản ghi đại vận theo tuổi khác, có bản vẽ Tuần Triệt bằng ký hiệu riêng. Gặp những trường hợp đó, ghi "không kiểm được" thay vì "không qua" — hai kết luận khác nhau.
Bảng tra nhanh: phép thử hỏng thì nghi chỗ nào trước
Khi một phép thử không qua, bảng dưới gợi ý thứ tự soát. Cột cuối là những nguyên nhân đã gặp nhiều khi đối chiếu lá số chép tay và lá số in từ các nguồn khác nhau.
| Phép thử | Dựa trên quy tắc nào | Hỏng thì nghi trước tiên |
|---|---|---|
| 1. Đủ 14 chính tinh | Mỗi chính tinh an đúng một lần | Chép sót khi ô chật, hai sao đồng cung chỉ ghi một |
| 2. Tử Vi – Thiên Phủ đối xứng | Thiên Phủ an đối xứng Tử Vi qua trục Dần – Thân | Chép nhầm ô, hoặc người lập tay đếm nhầm chiều |
| 3. Phủ đối Sát, Tướng đối Phá | Chòm Thiên Phủ đi thuận theo thứ tự cố định | Chép nhầm một sao trong chòm Thiên Phủ |
| 4. Cung Thân theo giờ | Mệnh đếm nghịch, Thân đếm thuận từ cung tháng | Giờ sinh ghi một đằng, lập một nẻo; quy ước giờ Tý |
| 5. Can Tý = can Dần, can Sửu = can Mão | Ngũ hổ độn khởi can từ Dần | Viết can cung bằng trí nhớ, nhầm can năm |
| 6. Thái Tuế ở chi năm | Vòng Thái Tuế khởi tại chi năm | Năm sinh sát Tết bị lấy nhầm năm |
| 7. Kình – Lộc – Đà liền nhau | Lộc Tồn theo can năm, Kình sau, Đà trước | Nhầm can năm, đảo chỗ Kình và Đà |
| 8. Số đại vận ở Mệnh = số cục | Đại vận khởi ở Mệnh bằng số cục | Lấy bản mệnh nạp âm năm sinh thay cho cục |
| 9. Chiều đại vận | Dương nam, âm nữ thuận; ngược lại nghịch | Chọn nhầm giới tính, nhầm âm dương năm |
| 10. Tuần, Triệt | Triệt theo can năm, Tuần theo tuần giáp | Vẽ dấu lệch một cung khi chép |
Bảng này không xếp lỗi nào nặng, lỗi nào nhẹ. Một lỗi ở phép thử 4 hoặc 8 kéo theo hàng loạt sao khác lệch, còn một lỗi ở phép thử 1 có khi chỉ là một chữ bị sót. Nhưng việc cần làm như nhau: tìm nguyên nhân rồi lập lại, đừng sửa tay từng ô cho "khớp".
Chạy thử mười phép thử trên một lá số giả định
Ví dụ giả định: nam, năm Giáp Tý, tháng ba âm lịch, ngày mười lăm, giờ Ngọ. Lá số lập theo quy tắc phổ biến cho ra cung Mệnh ở Tuất, cung Thân cũng ở Tuất, Mệnh mang can Giáp nên can chi cung Mệnh là Giáp Tuất, nạp âm Sơn Đầu Hoả, tức Hoả lục cục.
Phép thử 1: đếm đủ mười bốn chính tinh, không sao nào lặp. Phép thử 2: Tử Vi ở Sửu (số 1), Thiên Phủ ở Mão (số 3), tổng bằng 4, qua. Phép thử 3: Thiên Phủ ở Mão, Thất Sát ở Dậu, cách sáu cung; Thiên Tướng ở Mùi, Phá Quân ở Sửu, cách sáu cung, qua. Phép thử 4: giờ Ngọ nên Thân phải cùng cung Mệnh, lá số ghi Thân ở Tuất, qua. Phép thử 5: năm Giáp khởi Bính Dần, đi thuận tới Đinh Sửu; cung Tý mang can Bính giống Dần, cung Sửu mang can Đinh giống Mão, qua.
Phép thử 6: Thái Tuế ở Tý, đúng chi năm. Phép thử 7: can Giáp nên Lộc Tồn ở Dần, Kình Dương ở Mão, Đà La ở Sửu, qua. Phép thử 8: Hoả lục cục, cung Mệnh ghi 6, cung Hợi kế bên ghi 16, qua. Phép thử 9: năm Giáp là năm dương, nam nên đại vận đi thuận, số tăng từ Tuất sang Hợi rồi Tý, qua. Phép thử 10: năm Giáp nên Triệt ở Thân – Dậu; Giáp Tý thuộc tuần Giáp Tý nên Tuần ở Tuất – Hợi, qua.
Giả sử tờ lá số chép tay của cùng dữ liệu này lại ghi Thiên Phủ ở Tỵ. Phép thử 2 hỏng ngay vì 1 cộng 5 bằng 6, không phải 4. Phép thử 3 cũng hỏng vì Thất Sát ở Dậu không đối diện Tỵ. Hai phép thử cùng chỉ về một chỗ: người chép đã đặt Thiên Phủ sai ô, các sao khác của chòm có thể vẫn đúng. Đó là cách mười phép thử khoanh vùng lỗi mà không phải lập lại toàn bộ.
Khi một phép thử không qua: bốn việc nên làm theo thứ tự
Hỏi lá số lập theo quy ước nào. Trước khi gọi là "sai", xem có phải lá số dùng một bảng khác không. Phép thử 9 và 10 là chỗ hay gặp khác biệt do quy ước; phép thử 1, 2, 3, 5 thì gần như không có dị bản, hỏng là lỗi.
Đối chiếu lại dữ liệu đầu vào. Rất nhiều lá số "sai" thật ra là lá số đúng của một bộ dữ liệu khác: tháng âm đổi nhầm, giờ sinh làm tròn sang giờ kế bên, năm sinh sát Tết bị lấy nhầm năm. Phép thử 4 và 6 là hai chỉ báo nhạy nhất cho chuyện này.
Lập lại từ đầu thay vì sửa tay từng ô. Sửa một sao cho phép thử qua mà không tìm ra nguyên nhân thì các sao phụ thuộc vẫn lệch. Lập lại bằng tay theo quy tắc hoặc lập trên AI Huyền Học rồi chạy lại mười phép thử trên bản mới; công cụ nào cũng cần được soát bằng các bước như trên.
Ghi kết quả kiểm vào góc lá số. Một dòng ngắn như "đã kiểm 10 phép thử, phép 9 khác quy ước, các phép khác qua" giúp người đọc sau không phải làm lại. Ghi rõ ngày kiểm và người kiểm nếu lá số sẽ được chuyển cho người khác.
Câu hỏi thường gặp
Lá số qua đủ mười phép thử thì có chắc đúng hoàn toàn không?
Chưa chắc. Mười phép thử kiểm các quan hệ cốt lõi, không kiểm hết mọi tạp tinh. Một lá số có thể qua cả mười mà vẫn chép sai một sao nhỏ. Ngoài ra, lá số đúng quy tắc chỉ có nghĩa là phép tính nhất quán, không có nghĩa lời đoán dựa trên nó đã được kiểm chứng.
Vì sao không kiểm luôn vị trí Tử Vi theo ngày sinh?
Có thể kiểm, nhưng cần biết cục và dùng quy tắc an Tử Vi theo cục và ngày, mất nhiều thời gian hơn một phép thử nhanh. Mười phép thử ở đây chọn những quan hệ nhìn là thấy. Khi phép thử 8 cho thấy cục ổn, bạn có thể kiểm thêm vị trí Tử Vi nếu muốn chắc hơn.
Phép thử 9 không qua có phải lá số sai không?
Thường là nhập nhầm giới tính hoặc nhầm âm dương năm, nhưng cũng nên hỏi xem bản lá số có dùng quy ước đại vận khác không. Nếu toàn bộ chính tinh và sao theo năm đều khớp mà chỉ dãy số đại vận đi ngược, nghi đầu tiên là ô giới tính lúc nhập dữ liệu.
Không biết lá số lập theo sách nào thì kiểm được không?
Được. Các phép thử 1 đến 8 dựa trên quy tắc gần như mọi sách phổ biến ở Việt Nam ghi giống nhau. Chỉ khi một phép thử không qua thì việc biết bản quy tắc mới trở nên quan trọng, để phân biệt lỗi thật với khác biệt quy ước giữa các sách.
Có cần thuộc lòng các quy tắc này không?
Không cần. Chép mười phép thử ra một tờ giấy, mỗi lần kiểm thì dò theo. Sau vài lá số, bạn sẽ tự nhớ những quan hệ hay dùng như Tử Vi đối xứng Thiên Phủ, Thất Sát đối Thiên Phủ, Kình Đà kẹp Lộc Tồn, cung Thân theo giờ.
Kiểm lá số của người khác có nên nói kết quả với họ không?
Nên nói ở mức kỹ thuật: lá số khớp hay không khớp với dữ liệu, lệch ở chỗ nào, nên lập lại thế nào. Không nên dùng việc kiểm lá số làm cớ để luận đời người khác, nhất là về sức khoẻ, hôn nhân hay con cái của họ.