Cục là con số quyết định ba thứ trên lá số tử vi: vị trí sao Tử Vi (cùng với ngày sinh), cung khởi vòng Tràng Sinh và tuổi khởi đại vận. Ghi sai cục là sai cả ba cùng lúc, và cái khó là một lá số sai cục có thể vẫn trông rất nhất quán.
Bài trình bày dấu hiệu của hai kiểu sai cục, cách tính lại cục từ cung Mệnh bằng tay, và vì sao chỉ đếm sao hay kiểm đối xứng không đủ để bắt lỗi này. Ví dụ là lá số giả định, các vị trí đã được tự tính lại.
Cục được tính từ đâu và vì sao dễ sai
Ngũ hành cục lấy từ can chi của cung Mệnh, không phải can chi năm sinh. Cách tính gồm ba bước: xác định cung Mệnh theo tháng và giờ sinh; xác định can của cung đó bằng cách khởi can tại cung Dần theo can năm rồi đếm thuận; tra nạp âm của cặp can chi vừa có. Hành của nạp âm cho tên cục: Thuỷ nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục, Hoả lục cục.
Bước khởi can tại Dần là bước có quy tắc riêng, quen gọi là ngũ hổ độn: năm Giáp hoặc Kỷ khởi Bính Dần, Ất hoặc Canh khởi Mậu Dần, Bính hoặc Tân khởi Canh Dần, Đinh hoặc Nhâm khởi Nhâm Dần, Mậu hoặc Quý khởi Giáp Dần. Ai quên quy tắc này và khởi Giáp Dần cho mọi năm thì cục sẽ sai với tám trên mười can.
Nguồn sai thứ hai là nhầm cục với bản mệnh. Bản mệnh là nạp âm của can chi năm sinh, in ngay trên ô giữa, nên người lập tay hoặc người chép rất dễ lấy hành của nó làm cục. Hai dòng chỉ trùng nhau khi tình cờ. Nguồn sai thứ ba nằm trước cả việc tính cục: cung Mệnh đặt sai do tháng âm hoặc giờ sinh nhập sai. Khi đó cục tính "đúng quy tắc" nhưng cho một cung Mệnh khác. Ba nguồn sai này cần ba cách soát khác nhau, nên phần dưới tách riêng từng loại dấu hiệu thay vì gộp chung thành một danh sách.
Cục quyết định những gì trên lá số
Bảng dưới liệt kê ba thứ thay đổi theo cục. Đây cũng là ba chỗ để tìm dấu hiệu sai.
| Cục | Số đại vận ghi ở cung Mệnh | Cung khởi Tràng Sinh | Ngày 1 thì Tử Vi ở |
|---|---|---|---|
| Thuỷ nhị cục | 2 | Thân | Sửu |
| Mộc tam cục | 3 | Hợi | Thìn |
| Kim tứ cục | 4 | Tỵ | Hợi |
| Thổ ngũ cục | 5 | Thân | Ngọ |
| Hoả lục cục | 6 | Dần | Dậu |
Cột cuối chỉ ghi ngày mùng Một để thấy cùng một ngày mà năm cục cho năm vị trí khác nhau. Vị trí Tử Vi cho các ngày khác tính theo quy tắc chia ngày cho số cục; phần đó có bảng riêng, không nhắc lại ở đây.
Vòng Tràng Sinh khởi tại cung trong bảng, đi thuận với dương nam, âm nữ và đi nghịch với âm nam, dương nữ. Thuỷ và Thổ cùng khởi ở Thân nên không phân biệt được hai cục này chỉ qua Tràng Sinh.
Kiểu sai thứ nhất: sai lẻ, để lại dấu vết
Cục ở ô giữa không khớp số đại vận. Ô giữa ghi Kim tứ cục nhưng cung Mệnh ghi 6. Một trong hai chỗ bị chép nhầm. Đây là dấu hiệu dễ thấy nhất và phép thử nhanh "số đại vận ở Mệnh bằng số cục" bắt được ngay.
Tràng Sinh không ở cung khởi của cục. Ô giữa ghi Kim tứ cục nhưng Tràng Sinh nằm ở Dần, cung khởi của Hoả lục cục. Có thể người lập dùng cục khác khi an vòng Tràng Sinh rồi lại ghi cục đúng lên ô giữa.
Tử Vi không khớp với cục và ngày. Tính lại vị trí Tử Vi từ cục ghi trên ô giữa và ngày sinh; nếu ra cung khác với lá số thì chòm chính tinh đã được an theo một cục khác, hoặc theo một ngày khác.
Can cung Dần không theo ngũ hổ độn. Đọc can ghi ở ô Dần rồi so với quy tắc khởi can theo can năm. Nếu can ô Dần sai thì can của mọi cung sai theo, cục gần như chắc chắn sai, và lỗi nằm ở bước khởi can chứ không ở bước tra nạp âm.
Dấu vết cho biết khu vực, không cho biết nguyên nhân. Gặp một trong ba dấu hiệu, đừng sửa riêng chỗ đó. Tính lại cục từ đầu rồi mới quyết định chỗ nào đúng, chỗ nào chép nhầm.
Kiểu sai thứ hai: sai nhất quán, không để lại dấu vết
Đây là kiểu nguy hiểm hơn. Người lập dùng sai cục ngay từ đầu, rồi an mọi thứ theo cục sai đó một cách cẩn thận. Kết quả là một lá số đúng từng quan hệ nội bộ: số đại vận khớp cục, Tràng Sinh khớp cục, Tử Vi và Thiên Phủ vẫn đối xứng qua trục Dần – Thân, Thất Sát vẫn đối diện Thiên Phủ. Mọi phép thử nhanh dựa trên quan hệ giữa các ô đều qua.
Ví dụ giả định: nam, năm Đinh Mão, tháng mười một, ngày bốn, giờ Tuất. Cung Mệnh ở Dần; năm Đinh khởi Nhâm Dần, nên can chi cung Mệnh là Nhâm Dần, nạp âm Kim Bạch Kim, tức Kim tứ cục. Lá số đúng có Tử Vi và Thiên Phủ cùng ở Dần, Tràng Sinh ở Tỵ, cung Mệnh ghi đại vận 4. Bản mệnh năm Đinh Mão là Lô Trung Hoả.
Giả sử người lập lấy bản mệnh làm cục và an theo Hoả lục cục. Ngày bốn với cục sáu cho Tử Vi ở Thìn, Thiên Phủ đối xứng sang Tý; Tràng Sinh khởi ở Dần; cung Mệnh ghi 6. Cả lá số dịch đi theo, và từng quan hệ bên trong vẫn đúng. Chỉ có hai dấu hiệu: cục trùng hành với bản mệnh, và cục không trùng với nạp âm của can chi cung Mệnh. Muốn thấy hai dấu hiệu này, bạn phải tự tính lại cục, không có cách nào khác.
Bài học là kiểm quan hệ nội bộ chỉ chứng minh lá số nhất quán với chính nó. Muốn biết lá số nhất quán với dữ liệu sinh, cần ít nhất một phép tính lại từ đầu vào, và cục là phép tính đáng làm nhất vì nó điều khiển nhiều sao nhất.
Khi cục đổi vì cung Mệnh đổi: giờ sinh lệch một canh
Nguồn sai thứ ba đáng xem kỹ, vì nó hay gặp ở người sinh sát ranh hai canh giờ. Cùng ví dụ giả định năm Đinh Mão, tháng mười một, ngày bốn, chỉ đổi giờ sinh sang hai giờ kề bên:
| Giờ sinh | Cung Mệnh | Can chi cung Mệnh | Nạp âm | Cục |
|---|---|---|---|---|
| Dậu | Mão | Quý Mão | Kim Bạch Kim | Kim tứ cục |
| Tuất | Dần | Nhâm Dần | Kim Bạch Kim | Kim tứ cục |
| Hợi | Sửu | Quý Sửu | Tang Đố Mộc | Mộc tam cục |
Giờ Dậu và giờ Tuất cho hai cung Mệnh khác nhau nhưng cùng cục, vì Nhâm Dần và Quý Mão là một cặp chung nạp âm. Giờ Hợi thì cục đổi hẳn sang Mộc, kéo theo Tử Vi, Tràng Sinh và đại vận đổi theo. Nói cách khác, lệch một canh giờ có khi không đụng tới cục, có khi đổi cả nửa lá số; không thể đoán trước nếu không tính.
Vì vậy khi thấy hai lá số của cùng một người khác cục, câu hỏi đầu tiên nên là "hai bản có dùng cùng một giờ sinh và cùng một tháng âm không", trước khi nghĩ tới chuyện ai tính nhầm nạp âm. Ghi rõ giờ sinh dùng để lập lên lá số, kể cả khi đó là giờ đã làm tròn hay giờ ước đoán.
Tính lại cục bằng tay trong mười phút
Chỉ cần biết can năm, tháng âm, giờ sinh theo chi và một bảng nạp âm sáu mươi hoa giáp.
- Đặt tháng Giêng tại cung Dần, đếm thuận tới tháng sinh. Từ cung tháng đó, đặt giờ Tý rồi đếm nghịch tới giờ sinh: đó là cung Mệnh. Nếu lá số đã có cung Mệnh, vẫn nên tính lại một lần.
- Từ can năm, xác định can của cung Dần theo ngũ hổ độn. Đếm thuận từ Dần tới cung Mệnh, mỗi cung một can, để có can của cung Mệnh.
- Ghép can vừa có với chi của cung Mệnh thành một cặp can chi.
- Tra nạp âm của cặp đó. Mỗi hai cặp liền nhau trong vòng sáu mươi chung một nạp âm, ví dụ Giáp Tý, Ất Sửu cùng là Hải Trung Kim; Bính Dần, Đinh Mão cùng là Lô Trung Hoả.
- Lấy hành của nạp âm làm tên cục và số tương ứng.
- So với cục trên lá số. Nếu khác, kiểm thêm: cục trên lá số có trùng hành với bản mệnh không; can cung Dần trên lá số có đúng ngũ hổ độn không.
Với ví dụ Đinh Mão: tháng mười một tính từ Dần rơi vào Tý; từ Tý đếm nghịch mười một bước ứng với giờ Tuất rơi vào Dần, Mệnh ở Dần. Năm Đinh khởi Nhâm Dần, cung Mệnh là Nhâm Dần, Kim Bạch Kim, Kim tứ cục. Phép tính trùng với lá số đúng.
Sau khi tìm ra cục đúng
Cục sai thì gần như cả nửa lá số phải lập lại: toàn bộ mười bốn chính tinh, vòng Tràng Sinh, dãy số đại vận. Các sao an theo can năm, chi năm, tháng, giờ như Lộc Tồn, Thái Tuế, Văn Xương, Tả Phù không phụ thuộc cục nên giữ nguyên. Biết điều này giúp bạn khỏi lập lại những phần không cần lập.
Ghi ở góc lá số mới: "cục tính lại từ Nhâm Dần, Kim tứ cục; bản cũ ghi Hoả lục cục, nghi lấy theo bản mệnh". Một dòng như vậy giữ lại được lịch sử của tờ lá số và giúp người khác không lặp lại lỗi cũ.
Cuối cùng, nên tách bạch hai việc. Tìm ra cục đúng là sửa một phép tính. Nó không làm cho những lời luận trước đây "sai" hay lời luận mới "đúng" theo nghĩa kiểm chứng được; lập đúng lá số không biến lời đoán thành có bằng chứng. Nếu đã từng lo lắng vì một câu đọc từ lá số cũ, biết lá số đó sai cục là một lý do tốt để đặt câu đó xuống.
Câu hỏi thường gặp
Bản mệnh và cục cùng hành thì có phải sai không?
Không nhất thiết. Hai dòng có thể tình cờ cùng hành. Chỉ nghi sai khi cục trùng bản mệnh mà lại không trùng nạp âm của can chi cung Mệnh lúc bạn tự tính lại. Nếu tính lại vẫn ra đúng hành đó thì lá số không có lỗi.
Vì sao lá số sai cục vẫn qua các phép thử đối xứng?
Vì khi an sai cục một cách nhất quán, chòm Tử Vi và chòm Thiên Phủ vẫn được an theo đúng quy tắc tương đối giữa các sao, chỉ là cả chòm bị dịch sang chỗ khác. Quan hệ bên trong vẫn đúng, chỉ có điểm xuất phát sai.
Thuỷ nhị cục và Thổ ngũ cục cùng khởi Tràng Sinh ở Thân thì phân biệt thế nào?
Nhìn con số đại vận ở cung Mệnh: Thuỷ ghi 2, Thổ ghi 5. Hoặc tính lại vị trí Tử Vi từ ngày sinh: cùng một ngày, hai cục cho hai vị trí Tử Vi khác nhau, trừ một vài ngày tình cờ trùng.
Sai cục có làm đổi cung Mệnh không?
Không. Cung Mệnh tính từ tháng và giờ sinh, xong rồi mới tính cục. Cục sai không làm cung Mệnh đổi, nhưng cung Mệnh sai thì cục gần như chắc chắn đổi theo, vì can chi của cung khác nhau.
Khi tính lại cục cần những dữ liệu gì?
Can năm sinh, tháng âm lịch, giờ sinh theo chi và một bảng nạp âm sáu mươi hoa giáp. Không cần ngày sinh, không cần giới tính. Ngày sinh chỉ cần khi tiếp tục an Tử Vi theo cục, giới tính khi xác định chiều đại vận.
Có dị bản nào về cách tính cục không?
Cách tính cục từ nạp âm của can chi cung Mệnh được các sách phổ biến ở Việt Nam ghi giống nhau. Chỗ khác nhau giữa các lá số thường nằm ở bước trước đó: tháng nhuận tính thế nào, giờ sinh xác định ra sao, dẫn tới cung Mệnh khác nhau.