TuViChinhXac.comTử Vi Chính Xác
Đọc lá số như một hệ ký hiệu

Một ô trên lá số tử vi có gì: các lớp ký hiệu và mỗi lớp lấy từ dữ liệu nào

Mỗi ô lá số chồng nhiều lớp ký hiệu, mỗi lớp lấy từ một phần dữ liệu sinh. Biết lớp nào đi theo dữ liệu nào thì sai một dữ liệu là đoán được chỗ sẽ lệch.

A magnifying glass held over one blank square of a hand-drawn grid on aged paper, desk in Hai Phong with a ruler and compass nearby, close shot, warm light

Một ô trên lá số tử vi không phải một danh sách sao lộn xộn mà là nhiều lớp ký hiệu chồng lên nhau: tên chi, can cung, tên cung chức năng, số đại vận, chính tinh, phụ tinh theo năm, tháng, giờ, các vòng sao, dấu Tuần, Triệt. Mỗi lớp được tính từ một phần khác nhau của dữ liệu sinh.

Hiểu lớp nào đi theo dữ liệu nào là chìa để kiểm lá số: khi một dữ liệu bị nhập sai, bạn biết trước những lớp nào sẽ lệch và những lớp nào giữ nguyên. Bài mổ một ô của lá số giả định để minh hoạ. Bài không giải nghĩa sao, chỉ chỉ ra nguồn gốc của từng ký hiệu.

Vì sao nên nhìn một ô theo lớp

Người mới cầm lá số thường đọc mỗi ô từ trên xuống như đọc một đoạn văn: tên cung, rồi một loạt tên sao, rồi mấy con số. Cách đọc đó khiến mọi thứ có vẻ ngang hàng nhau, và một tên sao nhỏ ở góc ô có thể gây chú ý không kém chính tinh ở giữa.

Nhìn theo lớp thì khác. Mỗi lớp trả lời một câu hỏi: ô này là chi gì, mang can gì, giữ vai trò cung nào trong mười hai cung, thuộc đại vận nào, có những sao gì an theo ngày, theo năm, theo tháng, theo giờ, nằm ở vị trí nào trong mấy vòng sao. Những câu hỏi này độc lập với nhau, nên một lớp sai không kéo theo mọi lớp khác sai.

Lợi ích lớn nhất là khoanh lỗi. Khi so hai lá số của cùng một người mà thấy khác nhau, nhìn xem chỉ lớp nào khác. Nếu chỉ có số đại vận và vòng Tràng Sinh khác, nhiều khả năng là giới tính. Nếu Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp cùng dịch, là giờ. Nếu chính tinh dịch mà sao theo giờ đứng yên, là ngày hoặc cục. Biết lớp nào đi theo dữ liệu nào thì đọc được chỗ lệch như đọc một dấu vân tay.

Các lớp trong một ô và nguồn dữ liệu của từng lớp

Bảng dưới gom các lớp thường gặp trên lá số kiểu Việt Nam. Cột cuối cho biết dữ liệu nào sai thì lớp đó đổi.

Lớp ký hiệuThường nằm ở đâu trong ôTính từĐổi khi sai
Tên chi (Tý … Hợi)Góc ôCố định theo khungKhông đổi
Can cungCạnh tên chiCan năm (ngũ hổ độn)Năm sinh
Tên cung chức năngĐầu hoặc chân ôTháng và giờ sinh (vị trí Mệnh)Tháng, giờ
Số đại vậnGóc ôCục, âm dương năm, giới tínhTháng, giờ, năm, giới tính
Chính tinhGiữa ô, chữ lớnNgày sinh và cụcNgày, tháng, giờ, năm
Độ sáng của saoCạnh tên saoBảng miếu hãm của bản đang dùngBản quy tắc
Sao theo can nămPhụ tinhCan năm: Lộc Tồn, Kình, Đà, Khôi, Việt, Tứ HoáNăm sinh
Sao theo chi nămPhụ tinhChi năm: Thiên Mã và nhiều sao khácNăm sinh
Sao theo thángPhụ tinhTháng: Tả Phù, Hữu Bật và một số sao khácTháng
Sao theo giờPhụ tinhGiờ: Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa KiếpGiờ
Vòng Tràng SinhChân ôCục và chiều thuận nghịchTháng, giờ, năm, giới tính
Vòng Bác SĩChân ôCan năm và chiều thuận nghịchNăm, giới tính
Vòng Thái TuếChân ôChi nămNăm sinh
Tuần, TriệtTrên cạnh giữa hai ôCan chi nămNăm sinh

Cột "Đổi khi sai" có chữ "tháng, giờ" ở nhiều lớp vì tháng và giờ quyết định cung Mệnh, mà cung Mệnh quyết định cục. Đây là lý do một lỗi về giờ có thể lan rất rộng, trong khi một lỗi về giới tính chỉ chạm tới vài lớp.

Mổ một ô trên lá số giả định

Dữ liệu. Ví dụ giả định: nữ, năm Canh Ngọ, tháng tám âm lịch, ngày hai mươi hai, giờ Mão. Cung Mệnh ở Ngọ, can chi Nhâm Ngọ, Mộc tam cục. Năm Canh là năm dương nên đây là dương nữ, các dãy có chiều sẽ đi nghịch. Ta xem ô Mùi, nằm kề bên phải cung Mệnh trên hàng trên của khung.

Tên chi, can cung, tên cung. Ô Mùi mang can Quý, vì năm Canh khởi Mậu Dần và đếm thuận tới Mùi được Quý Mùi. Tính từ Mệnh ở Ngọ, ô Mùi là cung Phụ Mẫu.

Số đại vận. Mộc tam cục nên Mệnh ghi 3; dương nữ đi nghịch, nên Tỵ ghi 13, Thìn 23, và vòng ngược tới Mùi là đại vận cuối, ghi 113.

Chính tinh. Vũ Khúc và Tham Lang. Hai sao này đến từ chòm Tử Vi và chòm Thiên Phủ, tính từ ngày hai mươi hai và Mộc tam cục.

Sao theo can năm. Đà La: năm Canh có Lộc Tồn ở Thân, Đà La ở cung ngay trước là Mùi. Nếu lá số có ghi dấu hoá, cần biết bảng Tứ Hoá đang dùng, vì can Canh là một trong những can mà các bản ghi khác nhau.

Sao theo giờ. Văn Xương và Văn Khúc cùng ở Mùi, vì sinh giờ Mão. Đây là trường hợp hai sao đồng cung.

Các vòng và dấu. Vòng Tràng Sinh của Mộc cục khởi ở Hợi, đi nghịch: Hợi Tràng Sinh, Tuất Mộc Dục, Dậu Quan Đới, Thân Lâm Quan, Mùi Đế Vượng. Vòng Bác Sĩ khởi ở Thân (ô Lộc Tồn), đi nghịch, Mùi là Lực Sĩ. Vòng Thái Tuế khởi ở Ngọ, luôn đi thuận, Mùi là Thiếu Dương. Năm Canh có Triệt ở Ngọ – Mùi, nên dấu Triệt nằm trên cạnh giữa ô Mệnh và ô Mùi.

Một ô, sáu nguồn dữ liệu

Chỉ trong ô Mùi của ví dụ trên đã có ký hiệu đến từ đủ các nguồn: can và Đà La, Triệt, Thiếu Dương đến từ năm sinh; tên cung Phụ Mẫu đến từ tháng và giờ; Văn Xương, Văn Khúc đến từ giờ; Vũ Khúc, Tham Lang đến từ ngày qua cục; số 113 và Đế Vượng, Lực Sĩ đến từ cục cộng với chiều do âm dương năm và giới tính quyết định.

Thử hình dung lá số này bị nhập nhầm thành nam. Ô Mùi vẫn là Phụ Mẫu, vẫn có Vũ Khúc, Tham Lang, Đà La, Văn Xương, Văn Khúc, Triệt, Thiếu Dương. Chỉ đổi ba thứ: số đại vận (dương nam đi thuận, Mùi thành 13), sao của vòng Tràng Sinh và sao của vòng Bác Sĩ. Ba ký hiệu đổi, tên cung và bảy ký hiệu kể trên giữ nguyên.

Còn nếu giờ sinh bị nhập lệch một canh, ô Mùi sẽ đổi tên cung, Văn Xương và Văn Khúc tách ra hai cung khác, và tuỳ cục có đổi hay không mà chính tinh, số đại vận, vòng Tràng Sinh có thể đổi hết. Cùng một ô, hai lỗi khác nhau để lại hai "dấu vân tay" khác nhau.

Dùng bản đồ phụ thuộc để soát hai lá số

Khi có hai lá số của cùng một người mà khác nhau, đi theo thứ tự này để tìm dữ liệu gây lệch.

  1. Chọn một ô bất kỳ, tốt nhất là ô đông sao. Liệt kê ký hiệu của ô đó trên cả hai lá số theo từng lớp, mỗi lớp một dòng.
  2. Đánh dấu những lớp khác nhau giữa hai bản.
  3. Đối chiếu với cột "Đổi khi sai" trong bảng ở trên để tìm dữ liệu chung của các lớp bị đánh dấu.
  4. Kiểm thêm một ô thứ hai để xác nhận. Một dữ liệu sai thật sẽ để lại cùng một mẫu khác biệt ở mọi ô.
  5. Khi đã khoanh được dữ liệu, quay lại nguồn gốc của dữ liệu đó: giấy tờ, cách đổi lịch, quy ước giờ, ô giới tính.

Nếu các lớp khác nhau không có dữ liệu chung nào, khả năng cao là hai lá số theo hai bản quy tắc khác nhau ở một vài sao, hoặc một bản có lỗi chép lẻ. Khi đó so độ sáng và Tứ Hoá trước, vì đó là hai lớp hay khác nhau nhất giữa các bản.

Lỗi chép hay gặp ở từng lớp

Mỗi lớp có kiểu lỗi chép riêng. Biết trước giúp bạn soát đúng chỗ khi chép lại hoặc khi nhận một lá số chép tay.

  • Can cung: người chép ghi can theo trí nhớ hoặc bỏ hẳn. Soát bằng quy tắc can ô Tý trùng can ô Dần, can ô Sửu trùng can ô Mão.
  • Tên cung chức năng: đặt lệch cả vòng một ô khi chép, nhất là với khung bị xoay. Soát bằng cách xem cung Mệnh có đúng ô mà ô giữa ghi không, rồi đếm thuận: Phụ Mẫu, Phúc Đức, Điền Trạch… phải nối tiếp theo chiều kim đồng hồ.
  • Số đại vận: chép thiếu một chữ số, ví dụ 113 thành 13, khiến dãy có hai số 13. Soát bằng cách đọc dãy số theo chiều, mỗi bước tăng mười.
  • Chính tinh: hai chính tinh đồng cung chỉ ghi một. Soát bằng việc đếm đủ mười bốn.
  • Phụ tinh: sao ngắn tên bị bỏ khi ô chật; sao viết tắt bị đọc nhầm thành sao khác. Soát bằng các cặp đối xứng như Xương Khúc, Tả Hữu, Không Kiếp.
  • Các vòng sao: chép thiếu cả vòng vì cho là "phụ". Nếu bản gốc có vòng mà bản chép không có, ghi chú lại thay vì để người sau tưởng lá số được lập theo lối gọn.
  • Tuần, Triệt: vẽ lệch một cạnh. Soát Triệt bằng can năm, Tuần bằng tuần giáp chứa năm sinh.

Chép theo lớp, mỗi lần chép xong một lớp cho cả mười hai ô rồi mới sang lớp khác, ít sót hơn chép từng ô một từ trên xuống.

Lớp ký hiệu và ý nghĩa: hai việc tách rời

Bài này dừng ở chỗ nói ký hiệu từ đâu mà ra. Mỗi sao còn mang những ý nghĩa mà sách luận giải gán cho nó, và đó là một tầng khác. Tách hai tầng giúp bạn không nhầm một ký hiệu có tên nghe nặng nề với một điều gì đó đặc biệt về bản thân: Đà La, Triệt hay Thiếu Dương đều có mặt trên lá số của mọi người, chỉ khác ô.

Nhìn theo lớp cũng cho thấy một điều đơn giản mà dễ quên: trên một lá số, phần lớn ký hiệu là hệ quả tất yếu của năm, tháng, ngày, giờ và giới tính. Không có ký hiệu nào xuất hiện vì một lý do riêng nằm ngoài các dữ liệu đó. Khi một người luận nói về một sao như thể nó là dấu hiệu đặc biệt, nhớ lại sao đó đến từ lớp nào và ai cùng năm, cùng giờ với bạn cũng có nó.

Hiểu nguồn gốc từng lớp cũng là cách giữ đầu óc tỉnh táo khi đọc. Một lá số đúng từng lớp chỉ cho biết phép tính được làm cẩn thận; lập đúng lá số không làm lời đoán thành có bằng chứng. Phần luận, nếu bạn muốn tìm hiểu, nên được đọc như một hệ quy ước văn hoá, và các quyết định trong đời vẫn thuộc về bạn.

Câu hỏi thường gặp

Ô nào trên lá số cũng có đủ các lớp này không?

Mỗi ô đều có tên chi, can cung, tên cung chức năng, số đại vận và một sao của mỗi vòng. Chính tinh thì không: ô không có chính tinh gọi là vô chính diệu. Phụ tinh phân bố không đều, có ô nhiều, có ô không có sao nào.

Vì sao vòng Thái Tuế không đổi chiều theo giới tính?

Theo quy tắc phổ biến, vòng Thái Tuế khởi ở cung mang chi năm sinh và luôn đi thuận, không phụ thuộc âm dương nam nữ. Đây là lý do nó là một mốc ổn định khi kiểm lá số bị nghi nhầm giới tính.

Độ sáng của sao có phải là dữ liệu tính toán không?

Độ sáng tra từ bảng miếu, vượng, đắc, hãm theo vị trí của sao, nên nó phụ thuộc bảng mà người lập dùng. Các bảng ghi khác nhau ở một số ô, vì vậy khi so hai lá số, khác biệt về độ sáng thường là khác bảng chứ không phải sai dữ liệu.

Tuần, Triệt nằm trên cạnh giữa hai ô thì thuộc ô nào?

Mỗi dấu được tính cho cả hai cung mà nó nằm giữa. Khi chép lá số sang bảng, nên ghi dấu đó ở cả hai dòng tương ứng, kèm chú thích là cùng một dấu, để khỏi đếm thành hai.

Có cần biết hết các lớp mới kiểm được lá số không?

Không. Chỉ cần biết vài lớp chính: tên cung, số đại vận, chính tinh, sao theo giờ và Lộc Tồn. Năm lớp này đủ để khoanh phần lớn lỗi dữ liệu. Các lớp còn lại dùng để xác nhận.

Một ô có nhiều sao có nghĩa là cung đó quan trọng hơn không?

Số lượng sao trong ô là kết quả của quy tắc an sao, không phải thước đo tầm quan trọng. Nhiều sách cũng nhắc người đọc xem chính tinh và các cung liên quan trước, rồi mới tới phụ tinh, thay vì đếm sao.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183