Một tờ lá số tử vi viết chữ Hán trông rất khó, nhưng thực ra chỉ dùng một bộ chữ nhỏ lặp đi lặp lại: mười can, mười hai chi, chữ số, vài chữ chỉ ngày tháng giờ, tên mười hai cung, tên mười bốn chính tinh và vài chục phụ tinh. Nắm khoảng tám chục chữ là đọc được phần cốt lõi đủ để kiểm lá số.
Bài dành cho người giữ lá số cũ của ông bà, cha mẹ, muốn biết tờ giấy ghi gì trước khi nhờ người đọc kỹ hơn. Các bảng chữ dưới đây là chữ phồn thể thường gặp trên lá số; ví dụ cuối bài là một tờ lá số giả định, đã tự kiểm.
Vì sao còn gặp lá số chữ Hán và cần chuẩn bị gì
Nhiều người lập lá số thế hệ trước học chữ Nho, sách tử vi họ đọc là sách chữ Hán, nên lá số viết bằng chữ Hán là chuyện tự nhiên. Có gia đình còn giữ tờ lá số như vậy kẹp trong sổ, trong gia phả, đôi khi chỉ còn một nửa. Người đời sau thường cất đi vì không đọc được, hoặc nhờ ai đó đọc rồi chỉ nhớ một hai câu luận. Ngày giờ sinh ghi trên tờ giấy, thứ có giá trị thật sự, lại thường bị quên.
Đọc được phần cốt lõi của tờ lá số có hai cái lợi. Thứ nhất, bạn biết lá số được lập với dữ liệu gì: năm, tháng, ngày, giờ, giới tính, cục. Đó là thông tin quý, nhất là khi giấy tờ khác đã mất. Thứ hai, bạn kiểm được lá số có nhất quán không bằng những phép thử quen thuộc, mà không phải tin hoàn toàn vào lời đọc lại của người khác.
Chuẩn bị gồm: ảnh chụp rõ tờ lá số, một bảng chữ như trong bài, và một tờ nháp kẻ mười hai ô theo khung lá số. Cách làm tốt nhất là tra từng chữ, ghi âm Hán Việt bên cạnh, chữ nào không chắc thì đánh dấu hỏi. Phần nào khó, đặc biệt là chữ viết thảo hay chữ nhoè, nên nhờ người đọc được chữ Hán xác nhận và ghi lại tên người đó.
Mười can, mười hai chi và chữ dễ nhầm
Can chi xuất hiện ở ô giữa (năm sinh, ngày, giờ), ở góc mỗi cung (chi của cung, can cung) và trong tên một số sao. Ba cặp chữ hay nhầm được ghi ở cột cuối.
| Chữ | Đọc | Nhóm | Lưu ý |
|---|---|---|---|
| 甲 乙 丙 丁 戊 | Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu | Can 1 đến 5 | 戊 (Mậu) dễ nhầm với 戌 (Tuất) |
| 己 庚 辛 壬 癸 | Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý | Can 6 đến 10 | 己 (Kỷ) dễ nhầm với 巳 (Tỵ) |
| 子 丑 寅 卯 辰 巳 | Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ | Chi 1 đến 6 | 巳 (Tỵ) nét cuối khép kín |
| 午 未 申 酉 戌 亥 | Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi | Chi 7 đến 12 | 未 (Mùi) dễ nhầm với 末 |
Khi gặp một chữ nghi là Kỷ hay Tỵ, Mậu hay Tuất, dùng vị trí để phân xử: ở góc cung thì là chi, đứng trước chi trong một cặp can chi thì là can. Can và chi trong một cặp luôn cùng tính âm dương: Kỷ là can âm nên chỉ đi với các chi âm Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi. Nếu đọc ra một cặp như "Kỷ Ngọ" thì một trong hai chữ đã bị đọc nhầm.
Ngày, tháng, giờ, giới tính và cục ở ô giữa
Ô giữa thường ghi theo thứ tự năm, tháng, ngày, giờ, rồi giới tính, cục, bản mệnh. Những chữ sau đủ để đọc phần này.
| Chữ | Đọc | Nghĩa trên lá số |
|---|---|---|
| 年 月 日 時 | niên, nguyệt, nhật, thời | năm, tháng, ngày, giờ |
| 正月 | chính nguyệt | tháng Giêng |
| 冬月 / 臘月 | đông nguyệt / lạp nguyệt | cách gọi khác của tháng mười một / tháng Chạp |
| 閏 | nhuận | tháng nhuận, ví dụ 閏四月 là tháng tư nhuận |
| 初一 … 初十 | sơ nhất … sơ thập | mùng một tới mùng mười |
| 廿 / 卅 | trấp / táp | hai mươi / ba mươi, ví dụ 廿二 là ngày hai mươi hai |
| 男 女 陽 陰 | nam, nữ, dương, âm | ghép thành 陽男 dương nam, 陰女 âm nữ… |
| 水二局 木三局 金四局 土五局 火六局 | Thuỷ nhị cục … Hoả lục cục | năm loại cục |
| 命 身 | mệnh, thân | đánh dấu cung Mệnh, cung Thân |
Chữ số từ một tới mười là 一 二 三 四 五 六 七 八 九 十; mười một là 十一, hai mươi là 二十 hoặc 廿. Giờ thường ghi một chữ chi kèm 時, ví dụ 戌時 là giờ Tuất.
Tên mười hai cung và mười bốn chính tinh
Hai bộ tên này là phần chữ lặp lại nhiều nhất trên lá số. Tên cung thường đặt ở đầu hoặc chân mỗi ô; chính tinh viết chữ to hơn ở giữa ô.
| Mười hai cung | Đọc | Mười bốn chính tinh | Đọc |
|---|---|---|---|
| 命宮 | Mệnh | 紫微 | Tử Vi |
| 兄弟 | Huynh Đệ | 天機 | Thiên Cơ |
| 夫妻 | Phu Thê | 太陽 | Thái Dương |
| 子息 hoặc 子女 | Tử Tức | 武曲 | Vũ Khúc |
| 財帛 | Tài Bạch | 天同 | Thiên Đồng |
| 疾厄 | Tật Ách | 廉貞 | Liêm Trinh |
| 遷移 | Thiên Di | 天府 | Thiên Phủ |
| 奴僕 hoặc 交友 | Nô Bộc | 太陰 | Thái Âm |
| 官祿 | Quan Lộc | 貪狼 | Tham Lang |
| 田宅 | Điền Trạch | 巨門 | Cự Môn |
| 福德 | Phúc Đức | 天相 | Thiên Tướng |
| 父母 | Phụ Mẫu | 天梁 · 七殺 · 破軍 | Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân |
Bốn dấu hoá viết là 化祿 (Hoá Lộc), 化權 (Hoá Quyền), 化科 (Hoá Khoa), 化忌 (Hoá Kỵ), thường đặt sát dưới tên sao, có khi chỉ còn một chữ 祿, 權, 科, 忌. Độ sáng hay ghi một chữ nhỏ cạnh tên sao, như 廟 (miếu), 旺 (vượng), 得 (đắc), 平 (bình), 陷 (hãm); có bản thêm 利 (lợi). Bảng độ sáng khác nhau giữa các sách, nên chỉ chép lại, không dùng để kết luận lá số đúng sai.
Lá số chỉ ghi can chi năm: suy ra năm dương lịch thế nào
Lá số chữ Hán gần như không bao giờ ghi năm dương lịch, chỉ ghi can chi như 丁卯年. Vòng can chi lặp lại sau sáu mươi năm, nên một năm Đinh Mão có thể là 1927, 1987 hay một năm khác cách sáu mươi năm. Tờ lá số tự nó không cho biết là năm nào.
Cách suy là dựa vào những gì bên ngoài tờ giấy: tờ lá số của ai, người đó sinh vào khoảng thập niên nào, tờ giấy được tìm thấy cùng giấy tờ nào. Với lá số của ông bà, thường chỉ có một năm hợp lý trong vòng sáu mươi năm. Nếu tờ giấy có ghi niên hiệu vua, việc suy dễ hơn: ví dụ Bảo Đại năm thứ nhất ứng với năm Bính Dần 1926. Không chắc thì ghi "năm Đinh Mão, nhiều khả năng là…" chứ đừng ghi chắc một năm.
Năm dương lịch chỉ cần khi muốn đổi ngày âm sang ngày dương hoặc đối chiếu với giấy tờ khác. Để kiểm lá số thì can chi năm là đủ: Thái Tuế, Lộc Tồn, Triệt, can cung đều tính từ can chi năm, không cần biết năm dương lịch nào. Vì vậy, nếu mục đích chỉ là kiểm lá số, có thể để câu hỏi năm dương lịch lại sau, ghi chú là chưa xác định, và làm tiếp các bước đọc.
Đọc thử một tờ lá số chữ Hán giả định
Ví dụ giả định: ô giữa ghi 丁卯年 十一月 初四日 戌時 陰男 金四局 爐中火; ô góc dưới bên trái, tức ô Dần, ghi 命宮 cùng hai chữ to 紫微 và 天府.
- Đọc ô giữa: năm Đinh Mão, tháng mười một, ngày mùng bốn, giờ Tuất, âm nam, Kim tứ cục, bản mệnh Lô Trung Hoả. Kiểm âm dương: Đinh là can âm, ghi 陰男 là khớp.
- Kiểm bản mệnh: năm Đinh Mão có nạp âm Lô Trung Hoả, khớp chữ 爐中火.
- Kiểm cục: cung Mệnh ở Dần; năm Đinh khởi can Nhâm tại Dần, nên cung Mệnh là Nhâm Dần, nạp âm Kim Bạch Kim, tức Kim tứ cục, khớp 金四局. Can ghi ở góc ô Dần phải là 壬 (Nhâm).
- Kiểm chính tinh: Kim tứ cục, ngày mùng bốn cho Tử Vi ở Dần; Thiên Phủ đối xứng qua trục Dần – Thân cũng ở Dần. Hai chữ 紫微 và 天府 cùng ô là khớp.
- Kiểm cung Thân: giờ Tuất thì Thân ở cung Tài Bạch; tìm ô có chữ 財帛, xem có chữ 身 bên cạnh không. Với lá số này, đó là ô Tuất.
- Chép toàn bộ sang bảng mười hai dòng theo âm Hán Việt, giữ nguyên chữ gốc ở cột ghi chú, rồi chạy tiếp các phép thử kiểm lá số khác.
Nếu một bước không khớp, chưa vội kết luận lá số sai: rất có thể bạn đọc nhầm một chữ. Đọc lại chữ đó trên ảnh phóng to, hoặc nhờ người biết chữ Hán xem. Chỉ khi chữ đã chắc mà quan hệ vẫn không khớp mới ghi là lỗi của lá số.
Mấy điều nên giữ khi đọc lá số cũ
Chép trước, hiểu sau. Chép đúng mặt chữ và âm đọc trước, chưa vội giải nghĩa. Một bản chép trung thực có giá trị lâu dài hơn một bản dịch vội.
Ghi tên người đọc giúp. Chữ khó do ai đọc, đọc lúc nào, nên ghi lại. Nếu sau này có người đọc khác, bạn biết đang so hai cách đọc của hai người.
Đừng chuẩn hoá chữ khi chép. Có lá số dùng chữ dị thể, chữ viết tắt hay lối viết riêng của người lập. Chép đúng hình chữ như trên giấy, ghi âm đọc bên cạnh. Việc chuyển sang chữ chuẩn để ở cột ghi chú, vì chính lối viết riêng đôi khi giúp nhận ra tờ lá số do ai lập.
Tách phần ghi chú tay của người lập. Lá số cũ hay có vài dòng chữ nhỏ bên lề là lời luận hoặc ghi chú của người lập. Chép riêng phần đó, đánh dấu là ghi chú, không trộn với phần ký hiệu.
Giữ khoảng cách với lời luận cũ. Lá số đọc được và kiểm khớp chỉ cho biết dữ liệu và phép tính nhất quán; lập đúng lá số không làm lời đoán thành có bằng chứng. Những câu luận bên lề là cách nhìn của người lập thời đó, đáng giữ như tư liệu gia đình hơn là như lời báo trước.
Câu hỏi thường gặp
Không biết chữ Hán có đọc được lá số chữ Hán không?
Đọc được phần cốt lõi nếu tra theo bảng: can chi, chữ số, ngày tháng giờ, tên cung, tên chính tinh. Những chữ đó lặp đi lặp lại nên sau một tờ lá số bạn sẽ quen mặt chữ. Phần phụ tinh và ghi chú bên lề thì nên nhờ người biết chữ Hán.
Chữ 廿 trên lá số là gì?
Chữ 廿 nghĩa là hai mươi, hay dùng khi ghi ngày âm lịch. Ví dụ 廿二日 là ngày hai mươi hai, 廿九日 là ngày hai mươi chín. Tương tự, chữ 卅 nghĩa là ba mươi, dùng cho ngày ba mươi của tháng đủ.
Lá số ghi tháng 冬月 là tháng mấy?
Đông nguyệt là cách gọi tháng mười một âm lịch, còn lạp nguyệt (臘月) là tháng Chạp. Không phải lá số nào cũng dùng hai cách gọi này; nhiều tờ ghi thẳng 十一月, 十二月.
Làm sao biết lá số Đinh Mão là năm 1927 hay 1987?
Tờ lá số không cho biết, vì can chi lặp lại sau sáu mươi năm. Phải dựa vào thông tin ngoài lá số: lá số của ai, người đó thuộc thế hệ nào, giấy tờ đi kèm, niên hiệu nếu có. Không chắc thì ghi rõ là suy đoán.
Tên cung Tử Tức viết bằng chữ nào?
Có lá số viết 子息 (tử tức), có lá số viết 子女 (tử nữ). Cả hai cùng chỉ cung con cái. Tương tự, cung Nô Bộc có bản viết 奴僕, có bản viết 交友 (giao hữu).
Đọc xong lá số chữ Hán thì nên làm gì với bản gốc?
Giữ bản gốc phẳng, khô, tránh nắng, không viết thêm lên đó. Chép sang bảng âm Hán Việt kèm chữ gốc, lưu cùng ảnh chụp. Bản gốc là tư liệu gia đình; mọi ghi chú và chỉnh sửa nên làm trên bản chép.