Phần lớn người lập lá số không cần lo về ca giáp ranh: ngày giờ sinh của họ nằm xa mọi ranh giới, và quy ước nào cũng cho cùng một kết quả. Số còn lại rơi vào một trong vài vùng nhạy: sát ranh giờ âm lịch, trong giờ Tý, ở ngày đầu hoặc cuối tháng âm, trong tháng nhuận, quanh Tết, hoặc ở những năm lịch Việt và lịch Trung Quốc không trùng.
Bài này gom các vùng đó thành tám câu hỏi có hoặc không, kèm ngưỡng cụ thể để trả lời. Trả lời "không" cả tám câu thì bạn yên tâm lập một lá số. Có câu "có" thì bạn biết cần ghi quy ước nào và có thể phải lập vài bản để đối chiếu. Bảng kiểm chỉ làm sạch dữ liệu đầu vào; lá số lập từ dữ liệu sạch vẫn không biến lời đoán thành điều có bằng chứng.
Vì sao nên sàng lọc trước khi lập
Một lá số tử vi là kết quả của chuỗi bước: đổi lịch, xác định giờ âm lịch, an cung Mệnh, tính cục, an Tử Vi, an các sao theo năm, tháng, ngày, giờ. Mỗi bước có những điểm mà một quy ước nhỏ làm đổi đầu ra. Nếu không biết mình có nằm ở điểm đó hay không, bạn sẽ nhận một lá số mà không biết nó vững tới đâu.
Sàng lọc trước giúp tách hai loại người dùng. Loại thứ nhất, chiếm đa số, chỉ cần một lá số và không phải bận tâm cài đặt nào. Loại thứ hai cần biết chính xác cài đặt nào ảnh hưởng tới mình, để chọn có ý thức và ghi lại. Không sàng lọc thì người loại hai thường phát hiện vấn đề muộn, khi so hai lá số và thấy chúng khác nhau mà không hiểu vì sao.
Tám câu dưới đây không đòi kiến thức tử vi. Bạn chỉ cần ngày giờ sinh dương lịch, nơi sinh, và một công cụ đổi lịch âm Việt đáng tin.
Tám câu hỏi
Trả lời lần lượt. Mỗi câu có ngưỡng gợi ý; ngưỡng thận trọng hơn khi giờ sinh là lời kể hay giờ đã làm tròn.
- Giờ sinh có cách ranh giờ âm lịch dưới 20 phút không? Ranh giờ âm lịch rơi vào các giờ lẻ trên đồng hồ: 1 giờ, 3 giờ, 5 giờ… 23 giờ. Ví dụ sinh 6 giờ 50 là sát ranh giờ Mão và giờ Thìn.
- Giờ sinh có nằm từ 23 giờ đến trước nửa đêm không? Nếu có, quy ước giờ Tý quyết định ngày sinh là hôm đó hay hôm sau.
- Ngày âm lịch có phải mùng Một, ngày 29 hoặc ngày 30 không? Những ngày này nằm ở ranh tháng; lệch một ngày là đổi tháng.
- Năm sinh có tháng nhuận, và ngày sinh nằm trong tháng nhuận hoặc tháng cùng tên với nó không? Nếu nằm trong tháng nhuận, quy ước tháng nhuận quyết định số tháng; nếu nằm trong tháng cùng tên, cần chắc dữ liệu không bị nhầm giữa hai tháng.
- Giấy tờ có ghi một ngày âm lịch không tồn tại không? Ví dụ ngày 30 của một tháng chỉ có 29 ngày.
- Ngày sinh có nằm trong khoảng giữa Tết và lập xuân, hoặc là đêm giao thừa không? Nếu có, năm can chi phụ thuộc hệ đang dùng hoặc quy ước giờ Tý.
- Ngày sinh có nằm trước năm 1968, trong khoảng cuối 1984 đến tháng Tư 1985, hoặc khoảng cuối tháng Bảy đến cuối tháng Chín năm 1987 không? Đây là những giai đoạn lịch âm dùng ở Việt Nam có thể khác lịch tính theo UTC+7 hiện nay hoặc khác lịch Trung Quốc ở cả tháng.
- Người đó có sinh ngoài Việt Nam, hoặc giờ sinh ghi theo múi giờ khác không? Nếu có, cần quy đổi giờ trước mọi bước khác; đó là một nhóm vấn đề riêng.
Tám câu được xếp theo thứ tự từ đơn vị nhỏ (giờ) tới lớn (năm, lịch), vì câu sau thường chỉ có nghĩa khi đã chốt câu trước.
Câu "có" thì cần ghi gì và lá số đổi tới đâu
Bảng tóm tắt hệ quả của từng câu trả lời "có". Cột cuối là phần lá số có thể đổi khi đổi quy ước hoặc đổi ứng viên.
| Câu | Cần ghi lên lá số | Phần có thể đổi |
|---|---|---|
| 1. Sát ranh giờ | Giờ đồng hồ tới phút, nguồn của giờ sinh | Cung Mệnh, Thân, cục, sao theo giờ |
| 2. Giờ Tý trước nửa đêm | Quy ước giờ Tý | Ngày, có thể cả Tử Vi |
| 3. Ngày đầu hoặc cuối tháng | Lịch dùng (UTC+7 hay khác), quy ước giờ Tý | Tháng, ngày, cung Mệnh, cục, Tử Vi |
| 4. Tháng nhuận | Quy ước tháng nhuận, ngày âm có chữ nhuận | Tháng, cung Mệnh, cục, sao theo tháng |
| 5. Ngày không tồn tại | Dữ liệu gốc và cách hiểu đã chọn | Có thể đổi cả năm nếu là ngày cuối năm |
| 6. Tết, lập xuân, giao thừa | Năm tính theo Tết; quy ước giờ Tý | Năm can chi, mọi sao theo năm, chiều đại vận |
| 7. Giai đoạn lịch khác nhau | Lịch đã dùng để đổi | Ngày, tháng, có khi cả năm |
| 8. Sinh ở nước ngoài | Múi giờ nơi sinh, cách quy đổi | Có thể mọi thứ |
Khi có nhiều câu "có" cùng lúc, chúng nhân lên với nhau. Nhưng nhiều tổ hợp cho cùng kết quả, nên số lá số thật sự khác nhau thường ít hơn nhiều so với tích số các lựa chọn.
Nhiều câu "có" thì xử lý theo thứ tự nào
Sửa dữ liệu trước. Câu 5 (ngày không tồn tại), câu 7 (giai đoạn lịch khác nhau) và câu 8 (sinh ở nước ngoài) là lỗi hoặc mơ hồ ở dữ liệu gốc. Chúng phải được xử lý đầu tiên, vì mọi câu khác dựa trên ngày giờ đã chốt. Kiểm giờ Tý cho một ngày âm lịch còn chưa chắc là làm việc trên nền cát.
Rồi tới các quy ước. Câu 2 (giờ Tý), câu 3 (ranh tháng), câu 4 (tháng nhuận) và câu 6 (Tết, lập xuân, giao thừa) không phải lỗi mà là chỗ các truyền thống chọn khác nhau. Với mỗi câu, ghi rõ lựa chọn, và nếu chưa chọn được thì liệt kê các tổ hợp.
Cuối cùng là độ chính xác của giờ. Câu 1 (sát ranh giờ) phụ thuộc vào độ tin cậy của giờ sinh. Nếu giờ có thể rơi vào hai giờ âm lịch, nhân đôi số tổ hợp ở bước trước, rồi gom lại.
Gom và đặt tên. Sau khi liệt kê, gom các tổ hợp cho cùng ngày, tháng, năm, giờ âm lịch. Đặt tên cho từng bản còn lại bằng tổ hợp của nó, ví dụ "bản A: giờ Tý đổi lúc nửa đêm". Tên đó đi theo lá số suốt về sau.
Ví dụ giả định: một ngày giờ sinh có ba câu "có"
Ví dụ giả định một người sinh lúc 23 giờ 40 ngày 21/3/2023 ở Việt Nam. Theo lịch Việt, đó là ngày 30 tháng Hai năm Quý Mão, ngày cuối của tháng Hai thường; hôm sau 22/3 là mùng Một tháng Hai nhuận. Câu 2 có (giờ Tý trước nửa đêm), câu 3 có (ngày 30, cuối tháng), câu 4 có (năm có tháng Hai nhuận và ngày sinh nằm sát nó). Các câu còn lại là không.
Nếu giữ ngày 30 theo quy ước đổi ngày lúc nửa đêm, người này sinh tháng Hai thường, mọi quy ước tháng nhuận đều cho tháng Hai. Nếu đổi ngày từ 23 giờ, người này sinh mùng Một tháng Hai nhuận: tính trọn theo tháng mang tên hay chia đôi thì vẫn là tháng Hai, chỉ quy ước tính trọn sang tháng sau mới cho tháng Ba. Gom lại, chỉ có ba lá số khác nhau thật sự: ngày 30 tháng Hai, mùng Một tháng Hai, và mùng Một tháng Ba.
Ba câu "có" nghe đáng ngại, nhưng sau khi gom, công việc chỉ là lập ba bản, ghi quy ước ở góc mỗi bản và chọn bản chính theo truyền thống mình theo. Không có bản nào được chọn vì lời luận nghe hợp hơn.
Phiếu dữ liệu gốc nên lưu cùng lá số
Dù trả lời có hay không, lưu kèm mỗi lá số một phiếu ngắn như dưới đây giúp mọi lần lập lại về sau cho cùng kết quả.
- Ngày dương lịch và giờ đồng hồ tới phút, kèm nguồn: giấy chứng sinh, lời kể của ai, có làm tròn không.
- Nơi sinh và múi giờ áp dụng lúc sinh.
- Ngày âm lịch đầy đủ, có chữ nhuận nếu có, và lịch đã dùng để đổi.
- Năm can chi tính theo Tết.
- Quy ước giờ Tý và quy ước tháng nhuận, kể cả khi chúng không ảnh hưởng tới người này.
- Kết quả tám câu: câu nào có, câu nào không.
- Nếu lập nhiều bản: mỗi bản ứng với tổ hợp nào, bản nào được chọn làm bản chính và vì sao.
Phiếu này ngắn, nhưng nó biến lá số từ một tờ giấy khó kiểm thành một bản ghi có thể lập lại được, điều mà bất kỳ phép tính đáng tin nào cũng cần.
Những điều bảng kiểm không làm được
Bảng kiểm cho biết dữ liệu của bạn có nằm ở vùng nhạy hay không. Nó không cho biết giờ sinh ghi trên giấy có đúng với khoảnh khắc thật hay không; nếu giờ sinh là lời kể mơ hồ, mọi phép tính sau đó đều thừa hưởng độ mơ hồ ấy. Nó cũng không chọn hộ bạn quy ước nào; quy ước là lựa chọn theo truyền thống, và bảng kiểm chỉ giúp lựa chọn đó được ghi ra thay vì nằm ẩn trong cài đặt.
Bảng kiểm càng không trả lời câu hỏi lá số có nói đúng về một người hay không. Đó là câu hỏi về giá trị dự đoán, và cho tới nay chưa có bằng chứng ủng hộ. Phân biệt rõ hai câu hỏi, "lá số có được lập đúng không" và "lá số có nói đúng không", là điều trang này cố giữ trong mọi bài.
Nếu bạn trả lời "không" cho cả tám câu, có thể dừng ở đây: dữ liệu của bạn nằm xa mọi ranh giới, và những tranh cãi về giờ Tý hay tháng nhuận không chạm tới lá số của bạn.
Câu hỏi thường gặp
Có bao nhiêu người rơi vào ca giáp ranh?
Không có số liệu chính thức. Có thể ước lượng thô: giờ Tý trước nửa đêm chiếm một phần hai mươi tư thời gian trong ngày, các ngày đầu và cuối tháng chiếm vài phần trăm số ngày, tháng nhuận xuất hiện khoảng bảy lần trong mười chín năm. Cộng lại, phần lớn người lập lá số không rơi vào ca nào.
Ngưỡng 20 phút ở câu 1 lấy từ đâu?
Đó là ngưỡng thận trọng thường dùng, vì giờ ghi trên giấy hay được làm tròn tới mười lăm hoặc ba mươi phút. Nếu giờ sinh là lời kể, nên nới ngưỡng ra nửa tiếng hoặc hơn. Nếu giờ được ghi chính xác tới phút từ nơi sinh, ngưỡng có thể thu hẹp.
Trả lời có nhiều câu thì có phải lập rất nhiều lá số không?
Thường không. Nhiều tổ hợp quy ước cho cùng số tháng, cùng ngày, nên sau khi gom chỉ còn vài bản khác nhau thật sự. Ví dụ trong bài có ba câu "có" nhưng chỉ ra ba lá số.
Câu về năm 1968 và 1984–1985 có áp dụng cho người sinh ở miền Nam không?
Lịch âm dùng ở từng miền trước 1975 có thể khác nhau. Cách an toàn là tìm cuốn lịch in năm đó ở đúng nơi sinh, hoặc lập theo cả hai cách khi ngày sinh nằm sát ranh tháng, rồi ghi rõ lịch đã dùng.
Có cần làm bảng kiểm nếu chỉ lập lá số để đọc cho vui không?
Không bắt buộc. Nhưng nếu sau này bạn so lá số của mình với một bản khác và thấy khác nhau, bảng kiểm sẽ giúp tìm ra nguyên nhân trong vài phút thay vì tranh luận mãi về lời luận.