Một lá số tử vi là kết quả của dữ liệu sinh cộng với một loạt lựa chọn quy ước: đổi lịch theo nguồn nào, giờ Tý tính sang ngày nào, tháng nhuận tính ra sao, dùng bảng Tứ Hoá, bảng miếu hãm nào. Không ghi lại những lựa chọn này thì không ai, kể cả chính người lập vài năm sau, biết lá số được lập theo cách nào.
Bài đưa ra mẫu chín dòng ghi ở góc lá số, giải thích vì sao mỗi dòng cần có, và một ví dụ đã điền cho lá số giả định. Bài không bàn quy ước nào "đúng" hơn; việc đó tuỳ sách, tuỳ phái, và không có thước đo chung.
Vì sao lá số cần một dòng "lập theo cách nào"
Hai lá số khác nhau của cùng một người thường làm người ta lo: bản nào đúng? Câu hỏi đó chỉ trả lời được khi biết mỗi bản đã dùng dữ liệu gì và quy ước gì. Nếu cả hai đều dùng đúng dữ liệu nhưng khác quy ước giờ Tý, thì cả hai đều đúng theo quy ước của mình, và khác biệt là chuyện lựa chọn chứ không phải lỗi.
Vấn đề là gần như không lá số nào ghi quy ước. Lá số viết tay thời trước ghi ngày giờ, có khi ghi tên người lập, hiếm khi ghi gì hơn. Lá số tạo từ các công cụ hiện nay thì quy ước nằm trong cách công cụ được viết, người dùng không thấy. Khi tờ lá số đi qua tay người khác, phần thông tin ấy mất hẳn.
Một góc ghi chú vài dòng giải quyết điều này. Nó không làm lá số đúng hơn, nhưng làm lá số kiểm được: người cầm tờ giấy biết phải lập lại theo cách nào để ra đúng kết quả đó, và nếu muốn so với một lá số khác thì biết so chỗ nào trước.
Mẫu chín dòng
Mỗi dòng ứng với một chỗ mà các lá số hay khác nhau. Dòng nào không biết, ghi "không rõ"; đừng bỏ trống, vì bỏ trống dễ bị hiểu là "theo cách thông thường".
| Dòng | Ghi gì | Vì sao cần |
|---|---|---|
| 1. Nguồn giờ sinh | Giấy chứng sinh, sổ nhà hộ sinh, lời kể, ước đoán; giờ đồng hồ gốc | Biết độ tin của dữ liệu quan trọng nhất |
| 2. Múi giờ và hiệu chỉnh | Giờ trên giấy theo múi giờ nào; có đổi sang giờ mặt trời địa phương không | Hai cách xử lý có thể cho hai canh giờ khác nhau |
| 3. Đổi lịch | Ngày âm lịch lấy từ lịch Việt Nam hay nguồn khác; đã kiểm bằng hai nguồn chưa | Có những năm lịch Việt và lịch Trung Quốc lệch nhau |
| 4. Quy ước giờ Tý | Sinh từ 23 giờ đến nửa đêm tính sang ngày hôm sau hay giữ ngày cũ | Đổi ngày thì đổi vị trí Tử Vi |
| 5. Tháng nhuận | Tính theo tháng trước, tháng sau hay chia nửa tháng | Đổi tháng thì đổi cung Mệnh và các sao theo tháng |
| 6. Bảng Tứ Hoá | Bản nào, nhất là với can Canh, Mậu, Nhâm | Các bản ghi khác nhau với một số can |
| 7. Sao có dị bản | Cách an Hoả Linh, Khôi Việt và các sao khác có dị bản | Tránh nhầm khác bản thành sai |
| 8. Bảng miếu hãm | Bảng độ sáng theo sách hay phái nào | Độ sáng hay khác nhau giữa các bảng |
| 9. Người lập, ngày lập, cách lập | Lập tay hay bằng công cụ; đã chạy phép thử kiểm lá số chưa | Biết bản này thay cho bản nào |
Chín dòng có vẻ nhiều, nhưng phần lớn chỉ cần vài chữ. Dòng nào dài nhất thường là dòng một, vì nguồn giờ sinh là chỗ đáng ghi kỹ nhất.
Bốn dòng hay bị bỏ qua nhất
Dòng 3, đổi lịch. Nhiều người nghĩ đổi dương sang âm lịch chỉ có một kết quả. Thực tế có những năm lịch Việt Nam, tính theo kinh tuyến 105 độ Đông, lệch với lịch Trung Quốc. Ví dụ hay được nhắc là Tết Ất Sửu 1985: lịch Việt Nam ứng với ngày 21 tháng 1 năm 1985, lịch Trung Quốc ứng với ngày 20 tháng 2 năm 1985. Người sinh trong khoảng giữa hai ngày đó sẽ có tháng âm khác nhau tuỳ nguồn lịch. Ghi nguồn lịch là cách duy nhất để người sau hiểu khác biệt.
Dòng 4, giờ Tý. Với người sinh từ 23 giờ đến nửa đêm, hai quy ước cho hai ngày sinh khác nhau, và Tử Vi an theo ngày nên cả chòm chính tinh có thể dịch. Các sao an theo giờ không đổi, nên lá số trông giống nhau ở nhiều ô; không ghi quy ước thì rất khó nhận ra.
Dòng 5, tháng nhuận. Các sách khác nhau về cách tính người sinh trong tháng nhuận. Năm có tháng nhuận không hiếm, khoảng bảy năm trong mỗi chu kỳ mười chín năm, nhưng mỗi năm nhuận chỉ có một tháng nhuận, nên số người sinh đúng tháng đó không nhiều và người lập dễ quên. Với chính những người ấy, đây là dòng quan trọng nhất.
Dòng 6, Tứ Hoá. Với các can có dị bản, dấu hoá của một hoặc hai sao có thể nằm ở chỗ khác giữa hai lá số. Ghi tên bản đã dùng giúp người sau không coi đó là lỗi chép.
Ví dụ đã điền cho một lá số giả định
Ví dụ giả định: nữ, sinh khoảng gần nửa đêm, lá số lập tay, sau đó kiểm lại bằng công cụ. Góc lá số được ghi như sau.
Dòng 1: "Giờ theo giấy chứng sinh: 23 giờ 40; mẹ xác nhận khoảng gần nửa đêm." Dòng 2: "Sinh tại Việt Nam, giờ trên giấy theo giờ chuẩn Việt Nam hiện hành; không hiệu chỉnh theo kinh độ." Dòng 3: "Ngày âm lịch theo lịch Việt Nam; đã kiểm bằng hai nguồn lịch độc lập, khớp." Dòng 4: "Giờ Tý: tính sang ngày hôm sau." Dòng 5: "Không sinh tháng nhuận."
Dòng 6: "Tứ Hoá theo bảng của sách người lập dùng; can năm không thuộc nhóm có dị bản." Dòng 7: "Hoả Linh, Khôi Việt theo cùng sách; chưa đối chiếu bản khác." Dòng 8: "Độ sáng theo bảng của cùng sách." Dòng 9: "Lập tay ngày… tháng…, đã chạy mười phép thử kiểm lá số, qua cả mười; bản này thay cho bản chép tay cũ, bản cũ để giữ ngày sinh gốc chưa tính sang hôm sau."
Với ghi chú này, người đọc lá số biết ngay chỗ nhạy nhất là dòng 4: nếu ai đó lập lại theo quy ước giữ ngày cũ, chòm chính tinh có thể khác. Thay vì tranh luận lá số nào đúng, hai bên có thể chỉ vào đúng dòng đó và nói "chúng ta khác nhau ở quy ước giờ Tý".
Ghi ở đâu trên tờ lá số
Không có chỗ cố định; điều quan trọng là ghi chú đi cùng lá số, không tách rời.
- Lá số giấy: góc dưới hoặc mặt sau, chữ nhỏ nhưng đọc được. Nếu tờ giấy là bản gốc của gia đình, ghi trên một tờ kẹp kèm thay vì viết lên.
- Lá số chép sang bảng: thêm một khối chín dòng ở đầu hoặc cuối bảng, ngay dưới phần dữ liệu sinh.
- Lá số dạng ảnh chụp: lưu kèm một tệp ghi chú cùng tên, hoặc viết chín dòng vào phần mô tả của ảnh.
- Lá số gửi cho người khác: gửi kèm chín dòng trong cùng tin nhắn hoặc cùng trang, đừng gửi riêng.
- Nhiều bản của cùng một người: mỗi bản một khối ghi chú, có dòng 9 nói rõ bản này thay bản nào hoặc chạy song song với bản nào.
Một thói quen nhỏ: khi nhận lá số của người khác mà không có ghi chú, tự viết chín dòng với chữ "không rõ" ở những dòng chưa biết, rồi hỏi lại người lập. Chính những chữ "không rõ" đó cho biết cần hỏi gì.
Khi có hai lá số khác nhau: dùng chín dòng để so
Chín dòng ghi chú phát huy tác dụng rõ nhất khi bạn cầm hai lá số của cùng một người mà chúng không giống nhau. Thứ tự dưới đây giúp tìm ra nguyên nhân mà không phải lập lại từ đầu.
- Viết chín dòng cho từng lá số, dòng nào không biết thì ghi "không rõ".
- So dòng 1 và dòng 2. Nếu hai bản dùng giờ gốc khác nhau hoặc xử lý múi giờ khác nhau, đây gần như chắc chắn là nguyên nhân; xem các sao an theo giờ để xác nhận.
- So dòng 3, 4, 5. Nếu khác nhau ở đây, nhìn vị trí Tử Vi và cung Mệnh: khác ngày thì chòm chính tinh dịch, khác tháng thì cung Mệnh và các sao theo tháng dịch.
- So dòng 6, 7, 8. Khác nhau ở đây chỉ làm lệch một vài dấu hoá, vài phụ tinh hoặc ký hiệu độ sáng, còn khung chính giữ nguyên.
- Nếu chín dòng giống hệt nhau mà lá số vẫn khác, nghi lỗi chép hoặc lỗi lập; chạy các phép thử kiểm lá số trên cả hai bản.
- Ghi kết luận vào dòng 9 của cả hai bản: "khác bản kia ở quy ước giờ Tý" hoặc "bản này chép sót Văn Xương, đã bổ sung".
Cách làm này biến câu hỏi "bản nào đúng" thành câu hỏi "hai bản khác nhau ở lựa chọn nào". Câu hỏi thứ hai luôn có câu trả lời, còn câu hỏi thứ nhất nhiều khi không.
Ghi chú quy ước không làm lá số "đúng" hơn
Cần nói rõ giới hạn của việc này. Chín dòng ghi chú làm cho lá số minh bạch và lập lại được, giống như ghi rõ đơn vị đo bên cạnh một con số. Chúng không trả lời câu hỏi quy ước nào phản ánh "sự thật" tốt hơn, vì không có thước đo chung cho câu hỏi đó; các sách và phái chọn khác nhau vì những lý do lịch sử và lý thuyết riêng.
Cũng như mọi phép kiểm khác, ghi chú quy ước chỉ thuộc tầng dữ liệu và phép tính. Lập đúng lá số không làm lời đoán thành có bằng chứng; một lá số ghi đủ chín dòng vẫn là một bảng ký hiệu văn hoá. Giá trị của chín dòng nằm ở chỗ khác: chúng giúp những người cùng quan tâm nói chuyện với nhau trên cùng một nền, và giúp bạn không phải lo lắng vô cớ khi thấy hai tờ lá số khác nhau.
Câu hỏi thường gặp
Không biết lá số được lập theo quy ước nào thì ghi thế nào?
Ghi "không rõ" ở từng dòng chưa biết, và ghi nguồn của lá số, ví dụ "nhận từ người thân, lập năm nào không rõ". Chữ "không rõ" trung thực hơn một dòng đoán, và cho người sau biết cần hỏi thêm ở đâu.
Lá số tạo bằng công cụ thì có cần ghi quy ước không?
Nên ghi, vì công cụ nào cũng có lựa chọn quy ước riêng mà người dùng ít khi thấy. Ít nhất ghi được dòng 1, 2, 4, 5 vì đó là dữ liệu và lựa chọn bạn nhập vào. Các dòng còn lại ghi theo những gì công cụ công bố, hoặc ghi "không rõ".
Có quy ước nào được coi là chuẩn không?
Mỗi sách, mỗi phái có lựa chọn riêng, và không có cơ quan hay tiêu chuẩn chung nào quy định. Vì vậy mục đích của ghi chú không phải là chứng minh lá số theo "chuẩn", mà là nói rõ lá số theo lựa chọn nào.
Ghi nhiều dòng như vậy có làm lá số rối không?
Có thể viết rất gọn, mỗi dòng vài chữ, và đặt ở góc hoặc mặt sau. Phần lớn thời gian không ai cần đọc, nhưng khi có hai lá số khác nhau thì chín dòng này tiết kiệm rất nhiều thời gian đối chiếu.
Sinh ở nước ngoài thì dòng nào cần ghi kỹ nhất?
Dòng 2 về múi giờ và giờ mùa hè nếu có, cùng dòng 1 về giờ gốc trên giấy khai sinh. Ghi cả giờ địa phương nơi sinh lẫn giờ sau khi quy đổi, và nói rõ đã quy đổi theo cách nào.
Lá số cũ của ông bà có nên ghi thêm quy ước không?
Không viết lên bản gốc. Ghi trên một tờ kẹp kèm, phần lớn sẽ là "không rõ", trừ những gì gia đình còn nhớ. Bản ghi chú đó cũng là một tư liệu nhỏ về cách lá số được lập và truyền lại trong nhà.