TuViChinhXac.comTử Vi Chính Xác
Vì sao các lá số lệch nhau: sách và phái

Tứ hoá can Canh có mấy bản: Thái Âm hay Thiên Đồng hoá Kỵ, nhận ra lá số theo bản nào

Năm Canh, Lộc và Quyền thì các bản giống nhau, còn Khoa và Kỵ lệch. Cách nhận ra lá số trong tay theo bản nào và ghi quy ước lên lá số.

Close view of two hands laying two blank hand-drawn twelve-square grids side by side on a wooden desk in Hue, a pencil and ruler between them, warm lamp light

Với người sinh năm can Canh, hai sao đầu của bộ tứ hoá gần như mọi bản đều ghi giống nhau: Thái Dương hoá Lộc, Vũ Khúc hoá Quyền. Chỗ lệch nằm ở Hoá Khoa và Hoá Kỵ: bản hay gặp ở Việt Nam cho Thái Âm hoá Khoa, Thiên Đồng hoá Kỵ; một bản khác đảo lại, Thiên Đồng hoá Khoa, Thái Âm hoá Kỵ; và có bản đưa một sao khác vào chỗ Khoa. Đó là lý do hai lá số năm Canh có thể giống nhau từng ô mà chữ Kỵ lại đứng ở hai cung khác nhau.

Bài này chỉ làm một việc: giúp bạn khoanh đúng điểm lệch này khi so hai lá số, nhận ra lá số mình đang cầm theo bản nào, và ghi quy ước đó lên lá số để người đọc sau khỏi nhầm. Bài không đọc ý nghĩa của chữ Kỵ ở cung này hay cung kia, vì việc đó thuộc phần luận giải. Và cần nói ngay: chọn đúng một bản tứ hoá chỉ làm lá số nhất quán với quy ước mình theo, nó không làm lời đoán dựa trên lá số trở thành có bằng chứng.

Bảng tứ hoá can Canh theo các bản

Bảng dưới gom các bản hay gặp nhất. Dòng nào ghi "thống nhất" là chỗ các bản phổ biến giống nhau; dòng nào có hai lựa chọn là chỗ bạn cần biết nguồn của mình theo bên nào. Không có cột "bản đúng", vì không có phép thử nào phân xử được.

Vị trí hoáBản hay gặp ở Việt NamBản đảo Khoa – KỵGhi chú
Hoá LộcThái DươngThái DươngThống nhất giữa các bản phổ biến
Hoá QuyềnVũ KhúcVũ KhúcThống nhất giữa các bản phổ biến
Hoá KhoaThái ÂmThiên ĐồngCó bản thứ ba đưa sao khác vào đây (hay được nhắc là Thiên Phủ)
Hoá KỵThiên ĐồngThái ÂmChỗ lệch gây chú ý nhất vì chữ Kỵ đổi cung

Người học hay nhớ bộ tứ hoá bằng câu tắt bốn chữ. Bản đầu thường được nhớ là "Nhật Vũ Âm Đồng" (Nhật là Thái Dương, Âm là Thái Âm), bản thứ hai là "Nhật Vũ Đồng Âm". Hai câu chỉ khác thứ tự hai chữ cuối, nên chép tay hay đọc lướt rất dễ lẫn. Đây cũng là một lý do vì sao trong một số tài liệu tự soạn, bảng in ra không khớp với câu tắt đi kèm.

Với chín can còn lại, các bản phổ biến khớp nhau nhiều hơn, dù can Mậu và can Nhâm cũng có dị bản ở Hoá Khoa. Vì vậy khi so hai lá số mà năm sinh không phải năm Canh, Mậu hay Nhâm, gần như có thể loại tứ hoá năm sinh ra khỏi danh sách nghi vấn.

Vì sao điểm lệch này đáng khoanh riêng

Trên lá số, đổi một bản tứ hoá không làm sao nào dời chỗ. Thái Âm vẫn đứng ở cung của nó, Thiên Đồng vẫn đứng ở cung của nó; cái thay đổi chỉ là nhãn Khoa và nhãn Kỵ đổi chủ. Nhưng vì hai sao này thường nằm ở hai cung khác nhau, chữ Kỵ sẽ chuyển từ cung này sang cung kia, và mọi lời bàn dựa trên vị trí chữ Kỵ cũng chuyển theo.

Điều đó giải thích một hiện tượng hay gặp: hai người cùng tuổi Canh, cùng ngày giờ sinh, mang lá số đi hỏi hai nơi và nghe hai lời bàn khác hẳn nhau ở một vài cung. Họ dễ nghĩ một bên "xem sai", trong khi thực ra hai bên an sao giống nhau từng ô, chỉ khác ở bảng tứ hoá của một can.

Khoanh riêng điểm này cũng giúp ích theo chiều ngược lại. Khi hai lá số năm Canh lệch nhau ở nhiều chỗ hơn, chẳng hạn chính tinh khác cung hay cung Mệnh khác, thì nguyên nhân chắc chắn không nằm ở tứ hoá, vì tứ hoá không di chuyển sao. Phải lùi về các bước trước: ngày âm lịch, canh giờ, tháng nhuận. Biết một điểm lệch "chỉ được phép làm gì" là cách nhanh nhất để loại nó khỏi danh sách nghi vấn.

Ví dụ giả định: cùng một lá số, hai vị trí chữ Kỵ

Lá số giả định: nam, năm Canh Ngọ, tháng 5 âm lịch, ngày 10, giờ Thìn. Theo quy tắc an sao thông dụng, cung Mệnh ở Dần (can chi cung là Mậu Dần, nạp âm Thổ, nên là Thổ ngũ cục), cung Thân ở Tuất; Tử Vi ở Mão, Thiên Phủ ở Sửu. Các vị trí dưới đây đã tự kiểm lại từng bước.

SaoĐứng ở cungTheo bản "Âm Khoa – Đồng Kỵ"Theo bản "Đồng Khoa – Âm Kỵ"
Thái DươngTýHoá LộcHoá Lộc
Vũ KhúcHợi (cùng Phá Quân)Hoá QuyềnHoá Quyền
Thái ÂmDần, cung Mệnh (cùng Thiên Cơ)Hoá KhoaHoá Kỵ
Thiên ĐồngTuất, cung ThânHoá KỵHoá Khoa

Ở lá số này, khác biệt rơi đúng vào hai ô người ta hay nhìn đầu tiên: cung Mệnh và cung Thân. Theo bản thứ nhất, chữ Kỵ nằm ở cung Thân; theo bản thứ hai, chữ Kỵ nằm ngay cung Mệnh. Chỉ vì một dòng trong bảng tứ hoá mà người đọc lá số có thể bắt đầu câu chuyện từ hai điểm khác nhau.

Ví dụ giả định này không nói gì về đời ai. Nó chỉ cho thấy kích thước của điểm lệch: không sao nào dời chỗ, nhưng hai nhãn đổi chủ, và trong trường hợp này đổi đúng giữa hai cung được chú ý nhất.

Nhận ra lá số trong tay theo bản nào

Phần lớn lá số in ra hay hiện trên màn hình không ghi rõ bảng tứ hoá. Bạn có thể tự suy ra trong vài phút, chỉ cần lá số có ghi chữ Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ cạnh tên sao.

  1. Kiểm năm sinh trên ô giữa lá số có đúng là năm can Canh không. Người sinh sát Tết đôi khi bị tính sang năm trước hoặc năm sau; nếu can năm sai thì cả bộ tứ hoá sai, chẳng liên quan gì tới dị bản.
  2. Tìm sao Thái Dương và xem nó có mang chữ Lộc không, rồi tìm Vũ Khúc xem có chữ Quyền không. Nếu hai chỗ này đã khác, đừng nghĩ tới dị bản Canh nữa; đó là lỗi nhập liệu hoặc lỗi lập trình.
  3. Tìm sao Thái Âm, ghi lại nó mang chữ gì. Tìm sao Thiên Đồng, ghi lại nó mang chữ gì.
  4. Nếu Thái Âm mang Khoa và Thiên Đồng mang Kỵ: lá số theo bản "Âm Khoa – Đồng Kỵ". Nếu ngược lại: bản "Đồng Khoa – Âm Kỵ".
  5. Nếu Thiên Đồng mang Kỵ nhưng Thái Âm không mang chữ gì, hãy tìm xem chữ Khoa đang nằm cạnh sao nào. Đó là dấu hiệu của bản thứ ba; ghi tên sao đó lại.
  6. Viết một dòng ở góc lá số, ví dụ: "Tứ hoá Canh: Dương Lộc, Vũ Quyền, Âm Khoa, Đồng Kỵ". Từ nay ai cầm lá số cũng biết nó theo bản nào.

Nếu bạn tự lập lá số trên AI Huyền Học hoặc bất kỳ công cụ nào, làm đúng sáu bước trên với một lá số mẫu năm Canh trước khi tin vào lá số của mình. Một công cụ cẩn thận sẽ ghi rõ bảng mình dùng hoặc cho người dùng chọn; công cụ không ghi thì bạn tự ghi.

Khi nào hai bản cho cùng một hình ảnh trên lá số

Có một trường hợp đặc biệt đáng biết: khi Thái Âm và Thiên Đồng đứng chung một cung. Theo cấu trúc hai chòm chính tinh, điều này xảy ra khi Tử Vi ở Tỵ hoặc ở Hợi; lúc đó Thiên Đồng (cách Tử Vi năm cung theo chiều nghịch) và Thái Âm (ngay sau Thiên Phủ theo chiều thuận) cùng rơi vào Tý hoặc Ngọ. Bạn có thể tự đếm lại để kiểm.

Với những lá số năm Canh như vậy, dù theo bản nào thì cung Tý (hoặc Ngọ) cũng mang cả chữ Khoa lẫn chữ Kỵ. Hai bản chỉ khác nhau ở chỗ sao nào mang nhãn nào, còn vị trí hai nhãn trên lá số thì trùng khít. Người so lá số theo kiểu "chữ Kỵ ở cung nào" sẽ thấy hai bản giống hệt nhau và có thể không bao giờ nhận ra mình đang dùng hai bảng khác nhau.

Điều này có hai hệ quả thực tế. Thứ nhất, lá số mẫu dùng để thử xem một công cụ theo bản nào không được rơi vào trường hợp này, vì nó không phân biệt được hai bản; hãy chọn một lá số mẫu mà Thái Âm và Thiên Đồng đứng ở hai cung khác nhau, như ví dụ ở trên. Thứ hai, khi ghi quy ước lên lá số, vẫn nên ghi đủ bốn sao, vì người đọc sau có thể dùng lối tứ hoá theo can cung, và ở các tầng đó hai bản lại tách nhau ra.

Những nhầm lẫn hay gặp quanh can Canh

Nhầm can năm với can cung. Trong lối đọc dùng tứ hoá theo can của từng cung, cung nào mang can Canh cũng sinh ra một bộ tứ hoá Canh, dù người đó không sinh năm Canh. Dị bản vì vậy có thể xuất hiện trên lá số của bất kỳ ai dùng lối đọc này, không riêng người tuổi Canh.

Coi bảng của một nguồn là "bảng chuẩn". Một trang tài liệu ghi bảng tứ hoá mà không nói gì về dị bản không có nghĩa dị bản không tồn tại. Nó chỉ có nghĩa người soạn đã chọn một bản và không ghi lại lựa chọn đó.

Trộn hai bản trên cùng một lá số. Có người chép tay lấy Hoá Khoa theo bản này, Hoá Kỵ theo bản kia, kết quả là Thái Âm và Thiên Đồng cùng mang Kỵ hoặc cùng mang Khoa. Một can chỉ có một Lộc, một Quyền, một Khoa, một Kỵ; thấy hai chữ trùng là lá số bị chép lẫn.

Chọn bản theo lời luận dễ nghe. Thấy bản này đặt chữ Kỵ ở cung mình không thích rồi đổi sang bản kia là chọn câu chuyện, không phải chọn quy ước. Quy ước nên chọn trước khi nhìn lá số, theo nguồn mình học, và giữ nhất quán.

Nghĩ rằng dị bản là lỗi của người lập trình. Nhiều người báo lỗi cho người làm công cụ vì "Kỵ năm Canh sai". Thật ra cả hai bản đều có trong sách; câu hỏi đúng là công cụ có ghi rõ mình dùng bản nào hay không.

Ghi quy ước thế nào cho người đọc sau

Một lá số năm Canh không ghi bảng tứ hoá là một tài liệu thiếu chú thích. Thói quen tốt là viết đủ bốn sao chứ không chỉ viết "theo bản Việt" hay "theo bản Hoa", vì những tên gọi chung như vậy không đủ rõ: chính các sách cùng ngôn ngữ cũng không thống nhất với nhau. Bốn tên sao thì không thể hiểu sai.

Nếu bạn biết mình đang theo một cuốn sách cụ thể, ghi thêm tên sách. Nếu lá số do công cụ lập, ghi tên loại công cụ ở dạng chung chung và ngày lập, vì công cụ có thể đổi cài đặt qua các phiên bản. Với người viết bài về tử vi, quy ước càng cần thiết: một bài luận về lá số năm Canh mà không ghi bảng tứ hoá thì người đọc không có cách nào đối chiếu.

Khi so hai lá số năm Canh để tìm chỗ lệch, hãy đặt dòng quy ước này lên đầu phiếu so sánh. Nếu hai bên ghi khác nhau ở dòng này, mọi khác biệt về vị trí chữ Khoa và chữ Kỵ đã có lời giải thích; phần còn lại của lá số mới cần so tiếp.

Câu hỏi thường gặp

Bản tứ hoá can Canh nào đúng?

Không có phép thử nào phân xử được. Mỗi bản có sách ghi và có người theo. Việc nên làm là biết mình đang dùng bản nào, ghi rõ lên lá số và dùng nhất quán, thay vì đi tìm một bản được gọi là chuẩn duy nhất.

Đổi bảng tứ hoá có làm sao nào dời chỗ không?

Không. Bảng tứ hoá chỉ quyết định sao nào mang nhãn Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ. Vị trí các sao đã được an xong từ trước theo ngày, tháng, giờ và năm sinh. Nếu thấy sao dời chỗ, nguyên nhân nằm ở dữ liệu đầu vào chứ không ở tứ hoá.

Không sinh năm Canh thì có cần quan tâm dị bản này không?

Nếu chỉ dùng tứ hoá năm sinh thì không. Nếu dùng thêm tứ hoá theo can của từng cung, của đại vận hay của năm xem, thì mọi cung và mọi năm mang can Canh đều chịu ảnh hưởng của dị bản này, nên ai cũng nên biết.

Lá số không ghi chữ Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ thì kiểm thế nào?

Một số lá số chỉ đánh dấu bằng ký hiệu màu hoặc chữ viết tắt. Hãy tìm phần chú giải của lá số. Nếu không có, chỉ còn cách lập lại một lá số mẫu năm Canh trên cùng công cụ và xem nó gắn ký hiệu cho Thái Âm và Thiên Đồng ra sao.

Có nên tự sửa lá số do người khác lập sang bản mình quen không?

Nên giữ nguyên bản gốc và ghi thêm một dòng chú thích, ví dụ theo bản kia thì chữ Kỵ ở cung nào. Sửa thẳng lên lá số làm mất dấu vết quy ước ban đầu, và người đọc sau sẽ không biết lá số đã bị đổi.

Câu tắt "Nhật Vũ Âm Đồng" nghĩa là gì?

Đó là cách nhớ bốn sao theo thứ tự Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ: Nhật là Thái Dương hoá Lộc, Vũ là Vũ Khúc hoá Quyền, Âm là Thái Âm hoá Khoa, Đồng là Thiên Đồng hoá Kỵ. Bản đảo lại được nhớ là "Nhật Vũ Đồng Âm".

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183