TuViChinhXac.comTử Vi Chính Xác
Quy tắc an sao từng bước

Tính cục tử vi bằng cộng nhẩm: can cung Mệnh, nạp âm và năm ví dụ tự kiểm

Cách tính ngũ hành cục của lá số không cần bảng: ghi can cho cung Mệnh, cộng nhẩm số can với số chi ra nạp âm, đổi ra số cục, kèm phép thử bắt lỗi.

Side view of a young man in Da Nang counting on his fingers at a cafe table by the window, blank notebook and pencil, morning light, shallow depth of field

Cục của lá số tử vi được tính trong ba bước: ghi can cho cung Mệnh bằng ngũ hổ độn theo can năm sinh, tìm nạp âm của cặp can chi cung Mệnh, rồi đổi hành nạp âm ra số cục: Thuỷ nhị, Mộc tam, Kim tứ, Thổ ngũ, Hoả lục. Bước tìm nạp âm có thể làm bằng một phép cộng nhẩm nhỏ thay vì tra bảng sáu mươi hoa giáp.

Cục là mắt xích giữa cung Mệnh và mười bốn chính tinh: sai cục thì sao Tử Vi đặt sai ô, kéo theo cả hai chòm chính tinh, vòng Tràng Sinh và tuổi khởi đại vận. Bài trình bày cách tính theo quy ước phổ biến, kèm năm ví dụ giả định đã tự kiểm bằng chương trình, một bảng nhỏ để đối chiếu và các phép thử để biết mình tính đúng chưa.

Cục không phải bản mệnh năm sinh

Nhầm lẫn phổ biến nhất ở bước này là lấy bản mệnh theo năm sinh làm cục. Bản mệnh là nạp âm của can chi năm sinh: người tuổi Bính Dần có bản mệnh Lư Trung Hoả. Cục là nạp âm của can chi cung Mệnh trên lá số. Hai thứ dùng chung bảng nạp âm nhưng áp vào hai cặp can chi khác nhau, nên thường cho hai hành khác nhau.

Trong ví dụ giả định người sinh năm Bính Dần, tháng 5, giờ Thân, cung Mệnh nằm ở Tuất và mang can Mậu. Mậu Tuất có nạp âm Bình Địa Mộc, nên lá số là Mộc tam cục, trong khi bản mệnh năm sinh là Hoả. Trên lá số in sẵn, hai thông tin này thường được ghi ở ô giữa, cạnh nhau; đọc nhầm dòng là chuyện rất hay xảy ra.

Tên gọi "nhị, tam, tứ, ngũ, lục" là con số gắn với từng hành theo quy ước của tử vi đẩu số: Thuỷ 2, Mộc 3, Kim 4, Thổ 5, Hoả 6. Con số này dùng trực tiếp trong phép an sao Tử Vi và làm tuổi khởi đại vận đầu tiên, nên bạn cần nhớ chính xác, không suy theo thứ tự ngũ hành sinh hay khắc.

Một điểm nữa cần tách bạch: "hành của cung Mệnh" theo vị trí địa chi (ví dụ ô Tuất thuộc Thổ theo ngũ hành của chi) cũng không phải cục. Trên lá số có thể cùng lúc xuất hiện ba thứ hành: hành bản mệnh theo năm sinh, hành của chi cung Mệnh, và hành của cục theo nạp âm can chi cung Mệnh. Chỉ thứ cuối cùng tham gia vào phép an sao Tử Vi.

Bước một: ghi can cho cung Mệnh bằng ngũ hổ độn

Ngũ hổ độn cho biết ô Dần mang can gì tuỳ can năm sinh; từ đó các ô sau nhận can nối tiếp theo chiều thuận.

  1. Năm Giáp hoặc Kỷ: ô Dần mang can Bính.
  2. Năm Ất hoặc Canh: ô Dần mang can Mậu.
  3. Năm Bính hoặc Tân: ô Dần mang can Canh.
  4. Năm Đinh hoặc Nhâm: ô Dần mang can Nhâm.
  5. Năm Mậu hoặc Quý: ô Dần mang can Giáp.
  6. Từ ô Dần đi thuận qua Mão, Thìn, Tỵ… tới Hợi, mỗi ô lấy can kế tiếp. Ô Tý và ô Sửu đi sau ô Hợi, nên nhận can thứ mười một và mười hai, tức lặp lại đúng can của ô Dần và ô Mão.

Mẹo nhớ bằng số: đánh số can Giáp là 0, Ất 1… Quý 9. Can của ô Dần bằng hai lần số can năm cộng 2, lấy dư cho 10. Năm Bính (số 2): 2 × 2 + 2 = 6, tức Canh. Năm Mậu (số 4): 4 × 2 + 2 = 10, dư 0, tức Giáp. Khớp với năm dòng trên.

Ví dụ: năm Bính, ô Dần là Canh Dần, rồi Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tỵ, Giáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tuất, Kỷ Hợi, Canh Tý, Tân Sửu. Cung Mệnh ở Tuất nên mang can Mậu.

Bước hai: cộng nhẩm ra nạp âm

Thay vì tra bảng sáu mươi hoa giáp, có thể dùng một phép cộng nhẩm. Phép cộng này đã được chạy thử bằng chương trình trên đủ sáu mươi cặp can chi và cả sáu mươi cặp đều khớp với bảng nạp âm chuẩn. Cách làm: lấy số của can cộng số của chi; nếu tổng lớn hơn 5 thì trừ đi 5; tra kết quả theo cột cuối.

SốCanChiKết quả cộng → hành
0—Tý, Sửu, Ngọ, Mùi—
1Giáp, ẤtDần, Mão, Thân, DậuKim
2Bính, ĐinhThìn, Tỵ, Tuất, HợiThuỷ
3Mậu, Kỷ—Hoả
4Canh, Tân—Thổ
5Nhâm, Quý—Mộc

Thử ngay: Mậu Tuất là 3 cộng 2 bằng 5, ra Mộc, đúng Bình Địa Mộc. Bính Dần là 2 cộng 1 bằng 3, ra Hoả, đúng Lư Trung Hoả. Nhâm Thìn là 5 cộng 2 bằng 7, trừ 5 còn 2, ra Thuỷ, đúng Trường Lưu Thuỷ. Thứ tự Kim, Thuỷ, Hoả, Thổ, Mộc ở cột cuối là thứ tự riêng của mẹo này, không phải vòng tương sinh, nên cần nhớ đúng như bảng.

Bước ba chỉ còn là đổi hành ra số cục: Thuỷ 2, Mộc 3, Kim 4, Thổ 5, Hoả 6.

Năm ví dụ giả định tính trọn ba bước

Năm ví dụ dưới đây là lá số giả định, chọn sao cho đủ năm loại cục. Mỗi dòng đã được tính lại bằng chương trình viết theo đúng quy tắc trong bài.

Năm sinh, Mệnh ởCan cung MệnhCộng nhẩmNạp âmCục
Bính Dần, Mệnh ở TuấtMậu Tuất3 + 2 = 5Bình Địa MộcMộc tam cục
Tân Sửu, Mệnh ở MùiẤt Mùi1 + 0 = 1Sa Trung KimKim tứ cục
Giáp Tý, Mệnh ở DầnBính Dần2 + 1 = 3Lư Trung HoảHoả lục cục
Giáp Ngọ, Mệnh ở TýBính Tý2 + 0 = 2Giản Hạ ThuỷThuỷ nhị cục
Ất Hợi, Mệnh ở MãoKỷ Mão3 + 1 = 4Thành Đầu ThổThổ ngũ cục

Dòng thứ tư là ca dễ sai nhất: năm Giáp, ô Dần mang can Bính, đi thuận mười ô tới Tý thì can quay về Bính. Người quen tay hay gán Giáp cho ô Tý vì nghĩ "Tý là đầu vòng", ra Giáp Tý Hải Trung Kim và thành Kim tứ cục, lệch hẳn sang một cục khác.

Sai cục thì những gì trên lá số đổi theo

Để thấy vì sao bước tính cục cần cẩn thận, hãy lần theo chuỗi phụ thuộc. Cục quyết định ô của sao Tử Vi qua phép chia với ngày sinh. Từ Tử Vi suy ra Thiên Phủ, từ hai sao này đếm ra mười hai chính tinh còn lại. Cục cũng quyết định chỗ khởi vòng Tràng Sinh, và số cục chính là tuổi khởi đại vận đầu tiên. Như vậy chỉ một chữ sai ở bước này làm đổi khoảng mười bốn chính tinh, mười hai sao vòng Tràng Sinh và toàn bộ dãy số đại vận.

Ngược lại, những sao an theo can năm, chi năm, tháng sinh và giờ sinh không phụ thuộc vào cục: Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La, Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Mã, Tuần, Triệt, vòng Thái Tuế… vẫn đứng nguyên chỗ. Vì thế khi so hai lá số của cùng một người, nếu thấy nhóm sao phụ trùng khớp mà chính tinh lệch hàng loạt, nghi vấn đầu tiên nên đặt vào cục hoặc ngày sinh, không phải vào bảng sao phụ.

Thử với ví dụ giả định Bính Dần, Mệnh ở Tuất, ngày 17. Đúng là Mộc tam cục thì Tử Vi ở Ngọ. Nếu người lập nhầm lấy bản mệnh Hoả làm cục, tức Hoả lục cục, ngày 17 cho thương 3 (3 × 6 = 18), bù 1, đếm từ Dần tới Thìn rồi lùi một ô, Tử Vi rơi vào Mão. Hai lá số này lệch nhau gần như toàn bộ phần chính tinh, chỉ vì đọc nhầm một dòng.

Phép tự kiểm cho bước tính cục

Ô Tý cùng can với ô Dần, ô Sửu cùng can với ô Mão. Đây là hệ quả của việc Tý và Sửu nhận can sau Hợi. Nếu tờ lá số ghi can ô Tý khác can ô Dần, phần ghi can đã sai.

Hai ô liền cặp luôn cùng cục. Các cặp Tý – Sửu, Dần – Mão, Thìn – Tỵ, Ngọ – Mùi, Thân – Dậu, Tuất – Hợi luôn cho cùng một nạp âm, vì chúng là hai can chi liền nhau trong vòng sáu mươi. Mệnh ở Tỵ mà tính ra cục khác Mệnh ở Thìn của cùng năm sinh là có lỗi.

Cặp Dần – Mão và cặp Tuất – Hợi cùng cục. Với mỗi năm sinh, sáu cặp ô chỉ cho năm loại cục; loại bị lặp luôn là cục của cặp Dần – Mão và cặp Tuất – Hợi. Ví dụ năm Bính hoặc Tân, cả hai cặp đều là Mộc tam cục.

Số cục khớp với đại vận đầu tiên. Trên lá số in sẵn, con số ghi ở ô Mệnh cho đại vận thứ nhất phải bằng số cục. Mộc tam cục thì đại vận đầu là 3, Hoả lục cục là 6.

Số cục khớp với vòng Tràng Sinh. Theo quy ước phổ biến, sao Tràng Sinh khởi ở Thân với Thuỷ và Thổ cục, ở Hợi với Mộc cục, ở Tỵ với Kim cục, ở Dần với Hoả cục. Tràng Sinh đứng sai chỗ có thể là dấu hiệu cục sai.

Bảng đối chiếu nhanh theo can năm

Bảng dưới là kết quả của ba bước trên cho mọi tổ hợp, gom theo cặp can năm và cặp ô của cung Mệnh. Bạn nên dùng nó để kiểm kết quả tự tính, không phải để thay cho việc hiểu cách tính.

Can nămTý – SửuDần – MãoThìn – TỵNgọ – MùiThân – DậuTuất – Hợi
Giáp, KỷThuỷ 2Hoả 6Mộc 3Thổ 5Kim 4Hoả 6
Ất, CanhHoả 6Thổ 5Kim 4Mộc 3Thuỷ 2Thổ 5
Bính, TânThổ 5Mộc 3Thuỷ 2Kim 4Hoả 6Mộc 3
Đinh, NhâmMộc 3Kim 4Hoả 6Thuỷ 2Thổ 5Kim 4
Mậu, QuýKim 4Thuỷ 2Thổ 5Hoả 6Mộc 3Thuỷ 2

Đọc bảng theo hàng: mỗi hàng chứa đủ năm loại cục, và cột Dần – Mão luôn bằng cột Tuất – Hợi. Hai quan sát này chính là hai phép thử ở mục trên, nhìn thấy được ngay trên bảng. Phần tính cục hầu như không có dị bản giữa các sách tử vi phổ biến; lá số nào ra cục khác bảng này thì nên xem lại dữ liệu đầu vào trước.

Câu hỏi thường gặp

Cục và bản mệnh khác nhau thế nào?

Bản mệnh là nạp âm của can chi năm sinh, giống nhau cho mọi người sinh cùng năm. Cục là nạp âm của can chi cung Mệnh trên lá số, phụ thuộc thêm tháng và giờ sinh. Hai người cùng tuổi có cùng bản mệnh nhưng có thể khác cục.

Vì sao Thuỷ là nhị cục mà Hoả là lục cục?

Đó là quy ước số của tử vi đẩu số, được các sách ghi giống nhau: Thuỷ 2, Mộc 3, Kim 4, Thổ 5, Hoả 6. Bài này không đi vào cách giải thích nguồn gốc con số vì các giải thích khác nhau và không cần cho việc lập lá số đúng.

Mẹo cộng nhẩm nạp âm có đúng cho mọi năm không?

Mẹo đã được kiểm trên đủ sáu mươi cặp can chi và khớp toàn bộ với bảng nạp âm chuẩn. Điều kiện là can và chi phải cùng âm dương như mọi cặp hoa giáp thật; cặp can dương với chi âm không tồn tại trong vòng sáu mươi.

Có cần biết tên nạp âm như Bình Địa Mộc không?

Để tính cục thì chỉ cần hành. Tên đầy đủ như Bình Địa Mộc, Sa Trung Kim giúp đối chiếu với lá số in sẵn và nhận ra lỗi chép, nhưng không ảnh hưởng tới vị trí sao.

Đổi giờ sinh có làm đổi cục không?

Có thể. Đổi giờ làm cung Mệnh dịch sang ô khác. Nếu ô mới vẫn nằm cùng cặp với ô cũ, ví dụ từ Thìn sang Tỵ, thì cục giữ nguyên; nếu sang cặp khác thì cục thường đổi, kéo theo vị trí sao Tử Vi và cả hai chòm chính tinh.

Tính cục có dị bản giữa các sách không?

Trong các sách tử vi phổ biến, cách tính cục từ can chi cung Mệnh qua nạp âm được ghi thống nhất. Chênh lệch thường đến từ dữ liệu đầu vào khác nhau, như tháng âm lịch hay canh giờ, làm cung Mệnh nằm ô khác, chứ không phải từ quy tắc tính cục.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183