TuViChinhXac.comTử Vi Chính Xác
Quy tắc an sao từng bước

Sao an theo can năm sinh: Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La, Khôi Việt, Tứ Hoá, vòng Bác Sĩ

Nhóm sao an theo can năm sinh: quy tắc Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La, vòng Bác Sĩ, Thiên Khôi, Thiên Việt, Tứ Hoá, chỗ các sách ghi khác nhau và phép tự kiểm.

Top-down view of ten small blank wooden tiles arranged in a circle on a red lacquer tray in a Hoi An workshop, hands placing the last tile, soft window light

Can năm sinh quyết định trực tiếp vị trí của một nhóm sao: Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La, Thiên Khôi, Thiên Việt, bốn sao hoá (Hoá Lộc, Hoá Quyền, Hoá Khoa, Hoá Kỵ), cùng vòng mười hai sao Bác Sĩ khởi từ Lộc Tồn. Đây là nhóm sao không cần biết tháng, ngày hay giờ sinh: mọi người sinh cùng một can năm có cùng vị trí Lộc Tồn, Kình Đà, Khôi Việt, và cùng bộ bốn sao được hoá.

Bài trình bày quy tắc từng sao theo cách phổ biến trong sách tử vi lưu hành ở Việt Nam, nói rõ chỗ các sách ghi khác nhau, chạy thử trên ví dụ giả định đã tự kiểm, và đưa ra những phép thử để bắt lỗi chép. Bài không bàn ý nghĩa của sao nào; tên sao chỉ là ký hiệu trên lá số.

Lộc Tồn theo mười can

Lộc Tồn là sao mốc của cả nhóm: Kình Dương, Đà La và vòng Bác Sĩ đều tính từ nó. Vị trí Lộc Tồn trùng với chỗ "lộc" của mười can trong lịch pháp cổ, cũng là chỗ được dùng ở các môn khác như tứ trụ. Các sách tử vi phổ biến ghi thống nhất bảng này.

Can nămLộc TồnKình Dương (ô kế thuận)Đà La (ô kế nghịch)
GiápDầnMãoSửu
ẤtMãoThìnDần
Bính, MậuTỵNgọThìn
Đinh, KỷNgọMùiTỵ
CanhThânDậuMùi
TânDậuTuấtThân
NhâmHợiTýTuất
QuýTýSửuHợi

Cách nhớ: theo thứ tự can, Lộc Tồn đi qua Dần, Mão, rồi nhảy qua Thìn tới Tỵ, Ngọ cho hai cặp Bính Mậu, Đinh Kỷ; qua Mùi tới Thân, Dậu; qua Tuất tới Hợi, Tý. Bốn ô Thìn, Tuất, Sửu, Mùi không bao giờ có Lộc Tồn. Kình Dương luôn đứng ngay sau Lộc Tồn theo chiều thuận và Đà La ngay trước, bất kể nam hay nữ, âm hay dương: ba sao này luôn đi thành một dãy ba ô liền nhau.

Vòng Bác Sĩ: mười hai sao khởi từ Lộc Tồn

Vòng Bác Sĩ gồm mười hai sao an liền nhau, mỗi ô một sao, bắt đầu từ chính ô có Lộc Tồn: Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ. Bác Sĩ luôn cùng ô với Lộc Tồn.

Chiều đi của vòng phụ thuộc vào âm dương của can năm và giới tính. Dương nam và âm nữ đi thuận; âm nam và dương nữ đi nghịch. Can dương là Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm; can âm là Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý. Đây là chỗ khác biệt duy nhất giữa nam và nữ trong nhóm sao theo can: Lộc Tồn, Kình Đà, Khôi Việt, Tứ Hoá không đổi theo giới, còn vòng Bác Sĩ thì đổi chiều.

Trong ví dụ giả định Bính Dần, nam: Bính là can dương, người này là dương nam nên vòng đi thuận. Bác Sĩ ở Tỵ cùng Lộc Tồn, Lực Sĩ ở Ngọ, Thanh Long ở Mùi, Tiểu Hao ở Thân, Tướng Quân ở Dậu, Tấu Thư ở Tuất, Phi Liêm ở Hợi, Hỷ Thần ở Tý, Bệnh Phù ở Sửu, Đại Hao ở Dần, Phục Binh ở Mão, Quan Phủ ở Thìn. Nếu cùng năm sinh mà là nữ, Lộc Tồn vẫn ở Tỵ nhưng Lực Sĩ sẽ ở Thìn và cả vòng chạy ngược lại.

Phép kiểm nhanh: Lực Sĩ luôn trùng ô với Kình Dương hoặc Đà La. Đi thuận thì Lực Sĩ ở ô kế thuận, tức ô Kình Dương; đi nghịch thì Lực Sĩ ở ô kế nghịch, tức ô Đà La. Lá số nào có Lực Sĩ không đứng cùng Kình hoặc Đà là đã sai chiều hoặc sai điểm khởi.

Thiên Khôi, Thiên Việt và chỗ các sách ghi khác

Thiên Khôi và Thiên Việt là một cặp sao an theo can năm, mỗi can cho một cặp ô. Phần lớn các can được các sách ghi giống nhau:

  • Năm Giáp, Mậu: Thiên Khôi ở Sửu, Thiên Việt ở Mùi.
  • Năm Ất, Kỷ: Thiên Khôi ở Tý, Thiên Việt ở Thân.
  • Năm Bính, Đinh: Thiên Khôi ở Hợi, Thiên Việt ở Dậu.
  • Năm Nhâm, Quý: Thiên Khôi ở Mão, Thiên Việt ở Tỵ.
  • Năm Canh, Tân: các sách và các bảng lưu hành có hơn một cách ghi, khác nhau ở việc xếp can Canh vào nhóm nào và đặt cặp sao ở những ô nào. Bài này không chọn hộ bạn; hãy xem lá số mình đang dùng theo bảng nào và ghi chú lại.

Phép thử chung cho mọi bảng: Thiên Khôi và Thiên Việt không bao giờ cùng ô, và theo các bảng phổ biến, cả hai sao đều không đóng ở Thìn hay Tuất. Nếu một lá số chép tay ghi Khôi hoặc Việt ở hai ô này, rất có thể đã chép nhầm dòng.

Trong ví dụ giả định Bính Dần, Thiên Khôi ở Hợi và Thiên Việt ở Dậu. Với người sinh năm Canh hay Tân, lời khuyên thực tế là đặt hai lá số của hai bảng cạnh nhau: chỉ ô có Khôi, Việt khác nhau, phần còn lại của lá số giữ nguyên.

Tứ Hoá theo can năm và các dị bản

Tứ Hoá là bốn trạng thái gắn vào bốn sao có sẵn trên lá số, tuỳ can năm. Bảng dưới theo cách ghi phổ biến; ô có dấu hoa thị là chỗ các sách và các phái ghi khác nhau.

CanHoá LộcHoá QuyềnHoá KhoaHoá Kỵ
GiápLiêm TrinhPhá QuânVũ KhúcThái Dương
ẤtThiên CơThiên LươngTử ViThái Âm
BínhThiên ĐồngThiên CơVăn XươngLiêm Trinh
ĐinhThái ÂmThiên ĐồngThiên CơCự Môn
MậuTham LangThái ÂmHữu Bật *Thiên Cơ
KỷVũ KhúcTham LangThiên LươngVăn Khúc
CanhThái DươngVũ KhúcThái Âm *Thiên Đồng *
TânCự MônThái DươngVăn KhúcVăn Xương
NhâmThiên LươngTử ViTả Phù *Vũ Khúc
QuýPhá QuânCự MônThái ÂmTham Lang

Ba dị bản hay gặp: can Mậu có bản cho Thái Dương hoá Khoa thay Hữu Bật; can Nhâm có bản cho Thiên Phủ hoá Khoa thay Tả Phù; can Canh có các bản khác nhau ở sao hoá Khoa và hoá Kỵ, xoay quanh Thái Âm, Thiên Đồng và Thiên Phủ. Không có cơ sở kiểm chứng để nói bản nào đúng; lá số tốt là lá số ghi rõ mình theo bản nào.

Trong ví dụ giả định Bính Dần: Thiên Đồng hoá Lộc ở Sửu, Thiên Cơ hoá Quyền ở Tỵ, Văn Xương hoá Khoa ở Dần, Liêm Trinh hoá Kỵ ở Tuất. Vị trí của bốn sao hoá phụ thuộc vào vị trí các sao gốc, nên phải an xong chính tinh và Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phù, Hữu Bật rồi mới gắn được Tứ Hoá.

Ví dụ giả định thứ hai: một lá số âm nữ

Để thấy nhóm sao theo can vận hành với giới nữ, xét ví dụ giả định một người nữ sinh năm Tân Sửu, tháng 9, ngày 4, giờ Mão. Tân là can âm, người này là nữ, nên thuộc nhóm âm nữ và vòng Bác Sĩ đi thuận, giống dương nam.

Can Tân cho Lộc Tồn ở Dậu, Kình Dương ở Tuất, Đà La ở Thân. Bác Sĩ cùng ô Lộc Tồn ở Dậu, Lực Sĩ ở Tuất trùng ô Kình Dương, đúng với phép kiểm. Thiên Khôi, Thiên Việt thuộc trường hợp can Tân có hơn một cách ghi, nên lá số cần chú thích bảng đã dùng.

Tứ Hoá can Tân: Cự Môn hoá Lộc, Thái Dương hoá Quyền, Văn Khúc hoá Khoa, Văn Xương hoá Kỵ. Trên lá số này Cự Môn ở Tỵ, Thái Dương ở Hợi. Vì sinh giờ Mão nên Văn Xương và Văn Khúc cùng đóng ở Mùi, do đó một ô Mùi mang cả Hoá Khoa lẫn Hoá Kỵ. Đây không phải lỗi: hai trạng thái gắn vào hai sao khác nhau, chỉ tình cờ hai sao đó cùng ô. Người kiểm lá số thấy chữ Khoa và chữ Kỵ cạnh nhau trong một ô đừng vội cho là chép sai; hãy xem có phải hai sao gốc đang đồng cung hay không.

Phép tự kiểm cho nhóm sao theo can

Lộc Tồn tránh bốn ô mộ. Không bao giờ ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Hệ quả: Kình Dương không bao giờ ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi; Đà La không bao giờ ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu.

Ba ô liền nhau. Đà La, Lộc Tồn, Kình Dương luôn đứng ba ô liên tiếp theo chiều thuận. Thấy một trong ba sao lạc khỏi dãy là sai.

Bác Sĩ trùng Lộc Tồn, Lực Sĩ trùng Kình hoặc Đà. Hai điểm này kiểm cả điểm khởi lẫn chiều của vòng Bác Sĩ cùng lúc.

Mỗi can hoá đúng bốn sao khác nhau. Không có can nào hoá hai lần cùng một sao. Lá số ghi một sao vừa Hoá Lộc vừa Hoá Kỵ trong cùng tầng năm sinh là lỗi chép.

Sao được hoá phải có mặt trên lá số. Nếu lá số không an Tả Phù, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc thì không thể ghi Hoá Khoa hay Hoá Kỵ cho các sao đó. Lá số rút gọn đôi khi bỏ phụ tinh nhưng vẫn ghi chữ "Khoa" lơ lửng ở một ô trống, gây nhầm lẫn.

Vì sao nhóm sao theo can hay bị chép sai

Khác với chính tinh, nhóm sao theo can không có phép đếm nào để tự suy ra: phải thuộc hoặc tra bảng. Khi chép tay, người lập dễ nhảy nhầm một dòng trong bảng, nhất là giữa các can đi cặp như Bính – Mậu hay Đinh – Kỷ, hoặc nhầm giữa hai dòng Tứ Hoá có sao trùng tên như Thiên Cơ, Thái Âm.

Nguy cơ thứ hai là nhầm can năm. Người sinh tháng Chạp hoặc đầu tháng Giêng có khi được gán can của năm dương lịch thay vì năm âm lịch. Chỉ một can sai là cả nhóm này đổi chỗ: Lộc Tồn, Kình Đà, Khôi Việt, Tứ Hoá, vòng Bác Sĩ, kéo theo cả Triệt và can các cung, tức có thể đổi luôn cục.

Cách phòng ngừa đơn giản nhất là ghi can chi năm sinh bằng chữ to ở góc lá số và kiểm Lộc Tồn đầu tiên. Lộc Tồn đúng thì gần như chắc can năm đúng; từ đó các sao còn lại trong nhóm chỉ cần đối chiếu bảng. Bạn có thể lập lá số trên AI Huyền Học rồi dùng các phép thử trong bài để đối chiếu, nhất là ở can Canh, can Mậu, can Nhâm nơi các bản ghi khác nhau.

Câu hỏi thường gặp

Kình Dương có đổi chiều theo nam nữ không?

Theo cách an phổ biến trong tử vi đẩu số, không. Kình Dương luôn ở ô kế thuận của Lộc Tồn, Đà La luôn ở ô kế nghịch, cho cả nam lẫn nữ. Thứ đổi chiều theo âm dương nam nữ là vòng Bác Sĩ khởi từ Lộc Tồn.

Vì sao Bính và Mậu có cùng Lộc Tồn?

Bảng Lộc Tồn theo mười can xếp Bính với Mậu ở Tỵ và Đinh với Kỷ ở Ngọ. Các sách tử vi ghi thống nhất điểm này; đây là cách xếp kế thừa từ lịch pháp cổ, cũng gặp trong các môn khác dùng can chi.

Người sinh năm Canh nên dùng bảng Tứ Hoá nào?

Không có cơ sở kiểm chứng để chọn hộ. Cách trung thực là lập lá số theo một bản, ghi rõ tên bản lên lá số, và nếu cần thì lập thêm lá số theo bản kia để thấy chỉ hai ô hoá Khoa, hoá Kỵ khác nhau, phần còn lại giữ nguyên.

Tứ Hoá có phụ thuộc giờ sinh không?

Tứ Hoá của năm sinh chỉ phụ thuộc can năm: bốn sao nào được hoá là cố định. Nhưng vị trí ô của bốn sao đó lại phụ thuộc vị trí các sao gốc, nên giờ sinh vẫn gián tiếp làm đổi ô của Hoá Khoa hay Hoá Kỵ, nhất là khi sao được hoá là Văn Xương, Văn Khúc.

Thiên Khôi, Thiên Việt có phụ thuộc giới tính không?

Không. Cặp sao này chỉ phụ thuộc can năm sinh. Nam và nữ cùng can năm có Khôi, Việt ở cùng hai ô, theo cùng một bảng. Riêng người sinh năm Canh, Tân thì vị trí còn tuỳ bảng mà lá số đã chọn, nên cần đọc ghi chú quy ước.

Lá số không có vòng Bác Sĩ có thiếu sót không?

Không hẳn. Một số lá số rút gọn chỉ an chính tinh và các phụ tinh chính, bỏ các vòng sao. Điều cần biết là lá số đó đã bỏ những gì, để không hiểu nhầm một ô trống là ô không có sao.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183