Sáu sao an theo giờ sinh gồm Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp, Hoả Tinh và Linh Tinh. Bốn sao đầu chỉ cần giờ sinh: Văn Xương khởi ở Tuất đếm nghịch, Văn Khúc khởi ở Thìn đếm thuận, Địa Không và Địa Kiếp cùng khởi ở Hợi, một bên nghịch một bên thuận. Hoả Tinh và Linh Tinh cần thêm chi năm sinh, và là chỗ các sách ghi khác nhau.
Nhóm sao theo giờ là nhóm nhạy nhất với sai số giờ sinh: lệch một canh giờ thì cả sáu sao dịch chỗ, chưa kể Mệnh, Thân và có thể cả cục. Bài trình bày quy tắc theo cách phổ biến, đưa ra các trục đối xứng để kiểm chỉ bằng mắt, và chạy thử ví dụ giả định ở hai canh giờ liền nhau để bạn thấy mức độ thay đổi.
Bốn sao chỉ cần giờ sinh
Ở cả bốn quy tắc, ô khởi được coi là giờ Tý, rồi đếm tới giờ sinh. Giờ Tý không bước nào, giờ Sửu một bước, và cứ thế tới giờ Hợi mười một bước.
- Văn Xương: khởi ở Tuất, đếm nghịch tới giờ sinh. Giờ Tý ở Tuất, giờ Sửu ở Dậu, giờ Dần ở Thân…
- Văn Khúc: khởi ở Thìn, đếm thuận tới giờ sinh. Giờ Tý ở Thìn, giờ Sửu ở Tỵ, giờ Dần ở Ngọ…
- Địa Không: khởi ở Hợi, đếm nghịch tới giờ sinh. Giờ Tý ở Hợi, giờ Sửu ở Tuất…
- Địa Kiếp: khởi ở Hợi, đếm thuận tới giờ sinh. Giờ Tý ở Hợi, giờ Sửu ở Tý…
Bốn quy tắc này được các sách tử vi phổ biến ghi thống nhất. Nhiều sách xếp Địa Không, Địa Kiếp vào nhóm sát tinh cùng Kình Dương, Đà La, Hoả Tinh, Linh Tinh; cách gọi khác nhau không làm đổi vị trí.
Ví dụ giả định sinh giờ Thân (giờ thứ chín, tám bước): Văn Xương từ Tuất lùi tám ô tới Dần; Văn Khúc từ Thìn tiến tám ô tới Tý; Địa Không từ Hợi lùi tám ô tới Mão; Địa Kiếp từ Hợi tiến tám ô tới Mùi.
Hai trục đối xứng để kiểm bằng mắt
Văn Xương và Văn Khúc đối xứng qua trục Sửu – Mùi. Một sao đi nghịch từ Tuất, một sao đi thuận từ Thìn, cùng số bước; Tuất và Thìn lại đối xứng qua trục Sửu – Mùi, nên kết quả luôn đối xứng qua trục đó. Hai sao cùng ô khi sinh giờ Mão (cùng ở Mùi) hoặc giờ Dậu (cùng ở Sửu).
Địa Không và Địa Kiếp đối xứng qua trục Tỵ – Hợi. Hai sao cùng khởi ở Hợi, đi ngược chiều cùng số bước. Chúng cùng ô khi sinh giờ Tý (cùng ở Hợi) hoặc giờ Ngọ (cùng ở Tỵ), ngoài ra luôn ở hai ô đối xứng.
Địa Không luôn đứng ngay sau Văn Xương. Văn Xương khởi ở Tuất, Địa Không khởi ở Hợi, cả hai cùng đi nghịch cùng số bước, nên Địa Không luôn ở ô kế thuận của Văn Xương. Đây là phép kiểm nhanh nhất: liếc thấy hai sao này không đứng sát nhau là có lỗi.
Viết bằng số. Đánh số Tý là 0 tới Hợi là 11, giờ Tý là 0 tới giờ Hợi là 11. Văn Xương bằng 10 trừ giờ, Văn Khúc bằng 4 cộng giờ, Địa Không bằng 11 trừ giờ, Địa Kiếp bằng 11 cộng giờ, tất cả lấy dư cho 12. Cộng Xương với Khúc luôn ra 2 hoặc 14; cộng Không với Kiếp luôn ra 10 hoặc 22.
Hoả Tinh, Linh Tinh: điểm khởi theo chi năm
Hoả Tinh và Linh Tinh khởi ở ô tuỳ theo nhóm tam hợp của chi năm sinh, rồi từ ô đó coi là giờ Tý và đếm tới giờ sinh. Điểm khởi trong bảng dưới được các sách phổ biến ghi giống nhau.
| Chi năm sinh | Hoả Tinh khởi ở | Linh Tinh khởi ở |
|---|---|---|
| Dần, Ngọ, Tuất | Sửu | Mão |
| Thân, Tý, Thìn | Dần | Tuất |
| Tỵ, Dậu, Sửu | Mão | Tuất |
| Hợi, Mão, Mùi | Dậu | Tuất |
Chỗ khác nhau là chiều đếm. Có sách cho cả Hoả Tinh và Linh Tinh cùng đếm thuận với mọi người. Có sách, và nhiều lá số lập theo lối phổ biến ở Việt Nam, phân theo âm dương nam nữ: dương nam, âm nữ thì Hoả Tinh đếm thuận, Linh Tinh đếm nghịch; âm nam, dương nữ thì ngược lại. Hai cách cho cùng kết quả ở Hoả Tinh của dương nam, âm nữ và ở Linh Tinh của âm nam, dương nữ; hai trường hợp còn lại, tức Linh Tinh của dương nam, âm nữ và Hoả Tinh của âm nam, dương nữ, có thể rơi vào ô khác nhau.
Ví dụ giả định Bính Dần, nam, giờ Thân: chi Dần thuộc nhóm Dần Ngọ Tuất, Hoả Tinh khởi Sửu, Linh Tinh khởi Mão. Đếm thuận tám bước, Hoả Tinh ở Dậu theo cả hai cách. Linh Tinh: theo cách phân âm dương, dương nam đếm nghịch tám bước từ Mão tới Mùi; theo cách cùng thuận, Linh Tinh ở Hợi. Lá số nên ghi rõ đã dùng cách nào.
Lệch một canh giờ: ví dụ đối chiếu
Cùng ví dụ giả định Bính Dần, nam, tháng 5, ngày 17, chỉ đổi giờ sinh từ Thân sang Dậu. Hoả Tinh, Linh Tinh tính theo cách phân âm dương nam nữ. Kết quả đã chạy lại bằng chương trình an sao.
| Mục | Giờ Thân | Giờ Dậu |
|---|---|---|
| Cung Mệnh / cung Thân | Tuất / Dần | Dậu / Mão |
| Cục | Mộc tam cục | Hoả lục cục (Mệnh Đinh Dậu) |
| Sao Tử Vi | Ngọ | Mão |
| Văn Xương / Văn Khúc | Dần / Tý | Sửu / Sửu |
| Địa Không / Địa Kiếp | Mão / Mùi | Dần / Thân |
| Hoả Tinh / Linh Tinh | Dậu / Mùi | Tuất / Ngọ |
Bảng cho thấy lệch một canh giờ không chỉ làm sáu sao theo giờ dịch đi một ô. Mệnh dịch sang ô khác cặp, cục đổi từ Mộc tam sang Hoả lục, nên sao Tử Vi nhảy từ Ngọ sang Mão và toàn bộ mười bốn chính tinh đổi chỗ. Trong khi đó Lộc Tồn, Kình Đà, Khôi Việt, Tứ Hoá theo can và các sao theo tháng giữ nguyên ô. Đây là lý do người sinh sát ranh hai canh giờ nên lập cả hai lá số và đọc với tâm thế "chưa biết lá số nào là của mình".
Ví dụ giả định thứ hai: dương nữ, giờ Tỵ
Ví dụ giả định một người nữ sinh năm Canh Ngọ, giờ Tỵ. Canh là can dương, người này là nữ, thuộc nhóm dương nữ. Giờ Tỵ là canh thứ sáu, tức năm bước tính từ ô khởi.
- Văn Xương: từ Tuất lùi năm ô qua Dậu, Thân, Mùi, Ngọ, tới Tỵ.
- Văn Khúc: từ Thìn tiến năm ô qua Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, tới Dậu. Kiểm đối xứng: Tỵ và Dậu cách trục Sửu – Mùi đều nhau. Khớp.
- Địa Không: từ Hợi lùi năm ô tới Ngọ, đúng ô kế thuận của Văn Xương. Khớp.
- Địa Kiếp: từ Hợi tiến năm ô tới Thìn. Ngọ và Thìn đối xứng qua trục Tỵ – Hợi. Khớp.
- Hoả Tinh, Linh Tinh: chi Ngọ thuộc nhóm Dần Ngọ Tuất, Hoả khởi Sửu, Linh khởi Mão. Theo cách phân âm dương, dương nữ cho Hoả Tinh đếm nghịch năm ô tới Thân, Linh Tinh đếm thuận năm ô cũng tới Thân.
- Theo cách cho cả hai cùng đếm thuận: Hoả Tinh từ Sửu tiến năm ô tới Ngọ, Linh Tinh vẫn ở Thân. Hai cách chỉ khác nhau ở Hoả Tinh, đúng như nhận xét ở mục trên.
Ví dụ này cũng cho thấy một điều dễ gây hiểu lầm: theo cách phân âm dương, Hoả Tinh và Linh Tinh cùng đóng một ô. Người đọc lá số theo cách kia sẽ thấy hai sao ở hai ô khác nhau và có thể nghĩ lá số kia sai. Thực ra cả hai đều tính đúng theo quy ước của mình.
Ghi quy ước giờ sinh lên lá số
Vì nhóm sao theo giờ nhạy với dữ liệu, một lá số cẩn thận nên ghi rõ ba điều ở góc giấy. Thứ nhất, giờ đồng hồ gốc và nguồn của nó: giấy chứng sinh, sổ hộ sinh hay lời kể. Thứ hai, canh giờ đã quy đổi và có hiệu chỉnh gì không, ví dụ đổi múi giờ hay hiệu chỉnh theo kinh độ nơi sinh. Thứ ba, cách an Hoả Tinh, Linh Tinh đã dùng.
Ghi chú này không làm lá số "đúng" hơn về mặt dự đoán, nhưng giúp người khác kiểm lại được, và giúp chính bạn sau này khi đối chiếu với một lá số lập ở nơi khác. Hai lá số chỉ lệch nhau ở nhóm sao theo giờ gần như luôn có nguyên nhân ở canh giờ đầu vào hoặc ở cách an Hoả Linh; có ghi chú thì tìm ra nguyên nhân trong một phút.
Nếu bạn không chắc giờ sinh, cách ghi trung thực là nêu khoảng giờ, ví dụ "khoảng giữa giờ Thân và giờ Dậu", và lập cả hai lá số. Khi đặt hai tờ cạnh nhau, bạn sẽ thấy ngay nhóm sao nào đổi và nhóm nào giữ nguyên, như bảng đối chiếu ở mục trên. Phần giữ nguyên là phần bạn có thể yên tâm về mặt dữ liệu; phần thay đổi là phần lá số chưa xác định được.
Lỗi hay gặp ở nhóm sao theo giờ
Lỗi thứ nhất là đếm từ ô sau ô khởi. Giờ Tý nằm ngay tại ô khởi: Văn Xương giờ Tý ở Tuất, không phải Dậu. Lỗi này làm sáu sao cùng lệch một ô theo một chiều, nên các phép đối xứng vẫn có thể đúng; phép kiểm hữu hiệu hơn là thử lại một giờ đã biết chắc, ví dụ giờ Mão thì Văn Xương, Văn Khúc phải cùng ở Mùi.
Lỗi thứ hai là đổi giờ đồng hồ sang canh giờ không đúng. Mỗi canh giờ kéo dài hai tiếng, giờ Tý thường được hiểu từ 23 giờ tới 1 giờ sáng. Người sinh lúc 1 giờ 10 phút sáng là giờ Sửu, không phải giờ Tý. Ngoài ra còn câu hỏi giờ đồng hồ có cần hiệu chỉnh theo kinh độ nơi sinh hay theo múi giờ đã dùng tại thời điểm đó; đây là phần dữ liệu đầu vào, cần làm trước khi an sao.
Lỗi thứ ba là trộn hai cách an Hoả Linh trong cùng một lá số hoặc khi so hai lá số. Nếu hai lá số của bạn chỉ khác nhau ở Hoả Tinh, Linh Tinh, rất có thể chúng dùng hai cách đếm khác nhau chứ không phải một bên tính sai. Hãy kiểm bằng cách tự đếm theo cả hai cách và xem lá số nào khớp với cách nào.
Câu hỏi thường gặp
Văn Xương và Văn Khúc có bao giờ cùng một ô không?
Có, khi sinh giờ Mão thì cả hai cùng ở Mùi, sinh giờ Dậu thì cùng ở Sửu. Đây là hệ quả của việc hai sao đối xứng qua trục Sửu – Mùi; ở mười canh giờ còn lại, hai sao luôn ở hai ô khác nhau.
Địa Không, Địa Kiếp có phụ thuộc năm sinh không?
Theo cách an phổ biến, hai sao này chỉ phụ thuộc giờ sinh, cùng khởi ở Hợi. Người sinh cùng canh giờ, bất kể năm, tháng, ngày, có Địa Không và Địa Kiếp ở cùng hai ô.
Vì sao Hoả Tinh, Linh Tinh có nhiều cách an?
Các sách ghi giống nhau ở điểm khởi theo chi năm nhưng khác nhau ở chiều đếm: có sách cho cùng đi thuận, có sách phân theo âm dương nam nữ. Không có cách kiểm chứng để nói cách nào đúng, nên lá số cần ghi rõ cách đã dùng.
Không biết giờ sinh thì các sao này an thế nào?
Không an được chắc chắn. Có thể lập mười hai lá số theo mười hai canh giờ, nhưng cần hiểu rằng không lá số nào trong đó được xác nhận là của mình. Các sao theo năm và tháng thì vẫn an được vì không phụ thuộc giờ.
Giờ sinh mổ có khác gì khi an sao không?
Về mặt kỹ thuật thì không: an sao dùng canh giờ ghi nhận, bất kể sinh thường hay sinh mổ. Ý kiến về việc chọn giờ mổ theo tử vi là chuyện khác; quyết định giờ mổ thuộc về bác sĩ dựa trên sức khoẻ mẹ và bé.
Có cách nào kiểm nhanh nhóm sao theo giờ trên lá số in sẵn?
Có ba phép liếc mắt: Địa Không phải đứng ngay ô kế thuận của Văn Xương; Văn Xương và Văn Khúc đối xứng qua trục Sửu – Mùi; Địa Không và Địa Kiếp đối xứng qua trục Tỵ – Hợi. Sai một trong ba là có lỗi chép hoặc lỗi giờ.