Tuần và Triệt là hai dấu "không vong" trên lá số, mỗi dấu chiếm một cặp hai ô liền nhau. Tuần tìm bằng cách lùi từ can chi năm sinh về can Giáp gần nhất: hai chi còn thiếu trong tuần mười năm ấy là chỗ đặt Tuần. Triệt tra theo can năm sinh: Giáp Kỷ ở Thân Dậu, Ất Canh ở Ngọ Mùi, Bính Tân ở Thìn Tỵ, Đinh Nhâm ở Dần Mão, Mậu Quý ở Tý Sửu.
Hai dấu này hay bị đặt sai vì người lập nhầm giữa tuần Giáp và can năm, hoặc nhớ nhầm một dòng trong bảng Triệt. Bài trình bày cách tính theo quy ước phổ biến, kèm một mẹo nhớ bảng Triệt đã kiểm khớp, các ví dụ giả định, những phép thử, và một điều ít người để ý: có đúng mười năm trong vòng sáu mươi mà Tuần và Triệt rơi vào cùng một cặp ô.
Tuần: hai chi bị "bỏ lại" trong mỗi tuần mười năm
Vòng sáu mươi can chi chia thành sáu tuần, mỗi tuần mười cặp, bắt đầu bằng can Giáp: tuần Giáp Tý, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần. Mười can ghép với mười hai chi nên mỗi tuần chỉ dùng mười chi; hai chi còn thừa không có can đi kèm trong tuần đó. Ví dụ tuần Giáp Tý chạy từ Giáp Tý tới Quý Dậu, bỏ lại Tuất và Hợi.
Lý do có đúng hai chi bị bỏ lại là phép đếm đơn giản: mười hai chi trừ mười can. Mỗi tuần mới bắt đầu ở chi đứng ngay sau chi cuối của tuần trước, nên các cặp chi bị bỏ lại cũng xoay vòng đều, mỗi tuần lùi hai ô.
Tuần trên lá số được đặt vào đúng cặp hai chi bị bỏ lại của tuần chứa năm sinh. Vì thế Tuần chỉ có sáu vị trí khả dĩ: tuần Giáp Tý cho Tuất Hợi, Giáp Tuất cho Thân Dậu, Giáp Thân cho Ngọ Mùi, Giáp Ngọ cho Thìn Tỵ, Giáp Thìn cho Dần Mão, Giáp Dần cho Tý Sửu. Để ý quy luật: cặp ô của Tuần chính là hai chi đứng ngay trước chi của can Giáp đầu tuần.
Cách tìm tuần bằng tay: từ can chi năm sinh, lùi từng bước về can Giáp gần nhất. Năm Bính Dần lùi hai bước qua Ất Sửu tới Giáp Tý, vậy thuộc tuần Giáp Tý và Tuần ở Tuất Hợi. Năm Tân Sửu lùi bảy bước: Canh Tý, Kỷ Hợi, Mậu Tuất, Đinh Dậu, Bính Thân, Ất Mùi, Giáp Ngọ, vậy thuộc tuần Giáp Ngọ và Tuần ở Thìn Tỵ.
Cách tính bằng số: đánh số can Giáp là 0 tới Quý 9, chi Tý là 0 tới Hợi 11. Lấy số chi trừ số can, cộng 12 nếu âm, ra số chi của can Giáp đầu tuần. Tuần nằm ở hai ô có số nhỏ hơn số đó một và hai đơn vị. Bính Dần: 2 trừ 2 bằng 0, tuần Giáp Tý, Tuần ở Tuất (10) và Hợi (11). Canh Ngọ: 6 trừ 6 bằng 0, cũng tuần Giáp Tý.
Triệt: bảng theo can và một mẹo nhớ
Triệt chỉ phụ thuộc can năm sinh. Bảng dưới được các sách tử vi phổ biến ghi thống nhất.
| Can năm | Triệt ở | Mẹo kiểm: can Nhâm, Quý rơi vào |
|---|---|---|
| Giáp, Kỷ | Thân, Dậu | Khởi Giáp Tý: Nhâm Thân, Quý Dậu |
| Ất, Canh | Ngọ, Mùi | Khởi Bính Tý: Nhâm Ngọ, Quý Mùi |
| Bính, Tân | Thìn, Tỵ | Khởi Mậu Tý: Nhâm Thìn, Quý Tỵ |
| Đinh, Nhâm | Dần, Mão | Khởi Canh Tý: Nhâm Dần, Quý Mão |
| Mậu, Quý | Tý, Sửu | Khởi Nhâm Tý: Nhâm Tý, Quý Sửu |
Cột cuối là một mẹo nhớ: lấy cách gán can cho giờ trong ngày theo can ngày (ngày Giáp, Kỷ thì giờ Tý là Giáp Tý; ngày Ất, Canh thì giờ Tý là Bính Tý…), áp vào can năm, rồi tìm hai ô mang can Nhâm và Quý. Kết quả khớp với cả năm dòng của bảng Triệt. Ở đây mẹo chỉ được nêu như cách nhớ đã kiểm khớp; bài không khẳng định đó là nguồn gốc của quy tắc.
Hai quan sát giúp kiểm nhanh: Triệt chỉ có năm vị trí khả dĩ và không bao giờ ở cặp Tuất Hợi; các can cách nhau năm (Giáp – Kỷ, Ất – Canh…) luôn có cùng Triệt, giống như chúng dùng chung ngũ hổ độn.
Ví dụ giả định và mười năm Tuần Triệt trùng nhau
Ba ví dụ giả định dưới đây đã được tính lại bằng chương trình an sao. Ví dụ thứ hai rơi đúng vào trường hợp đặc biệt: Tuần và Triệt cùng một cặp ô.
| Năm sinh | Tuần Giáp | Tuần ở | Triệt ở |
|---|---|---|---|
| Bính Dần | Giáp Tý | Tuất, Hợi | Thìn, Tỵ |
| Tân Sửu | Giáp Ngọ | Thìn, Tỵ | Thìn, Tỵ |
| Canh Ngọ | Giáp Tý | Tuất, Hợi | Ngọ, Mùi |
Cho chương trình chạy qua đủ sáu mươi năm can chi, kết quả là có đúng mười năm Tuần và Triệt trùng cặp ô: Giáp Tuất, Ất Dậu, Bính Thân, Đinh Mùi, Mậu Ngọ, Kỷ Mão, Canh Dần, Tân Sửu, Nhâm Tý, Quý Hợi. Năm mươi năm còn lại, hai dấu nằm ở hai cặp ô hoàn toàn tách biệt; không có năm nào hai dấu chỉ chồng lên nhau một ô.
Danh sách này còn là một phép thử: nếu một lá số của người tuổi Tân Sửu ghi Tuần và Triệt ở hai chỗ khác nhau, ít nhất một dấu đã sai. Ngược lại, lá số tuổi Bính Dần mà ghi Tuần Triệt cùng chỗ thì chắc chắn có lỗi.
Phép tự kiểm cho Tuần và Triệt
Tuần luôn là cặp hai ô bắt đầu bằng chi dương. Sáu cặp là Tý Sửu, Dần Mão, Thìn Tỵ, Ngọ Mùi, Thân Dậu, Tuất Hợi. Thấy Tuần ở "Sửu Dần" hay "Mão Thìn" là chép sai.
Triệt không bao giờ ở Tuất Hợi. Năm cặp còn lại mới là chỗ của Triệt. Đây là phép kiểm một giây.
Năm sinh của tuần Giáp Tý luôn có Tuần ở Tuất Hợi. Mười năm từ Giáp Tý tới Quý Dậu đều thế. Tổng quát: hai năm cách nhau dưới mười và cùng nằm trong một tuần thì Tuần ở cùng chỗ.
Đổi giờ, tháng, ngày không làm Tuần Triệt dịch. Hai dấu chỉ phụ thuộc can chi năm. Nếu hai lá số cùng năm sinh mà Tuần Triệt khác nhau thì một lá số đã dùng năm âm lịch khác, hoặc chép sai.
Kiểm chéo với Lộc Tồn. Can năm vừa quyết định Triệt vừa quyết định Lộc Tồn. Lộc Tồn đúng mà Triệt sai thường là lỗi nhảy dòng khi tra bảng, không phải lỗi can năm.
Lỗi hay gặp khi an Tuần, Triệt
Hai dấu này chỉ cần can chi năm sinh, nhưng vẫn là chỗ hay sai trên lá số chép tay. Các lỗi dưới đây gặp nhiều nhất.
- Lấy chi năm làm Tuần. Có người đặt Tuần ngay cạnh chi năm sinh vì nhớ mang máng "Tuần theo tuổi". Tuần theo tuần Giáp chứa năm sinh, không theo chi năm. Năm Bính Dần có Tuần ở Tuất Hợi, xa chi Dần.
- Lùi về can Giáp sai chiều. Phải lùi từ năm sinh về can Giáp đứng trước, không tiến tới can Giáp sau. Tiến tới sẽ ra tuần kế tiếp, Tuần lệch hai ô.
- Nhảy dòng trong bảng Triệt. Năm dòng của bảng chỉ khác nhau từng cặp ô liền kề, nên nhảy một dòng là Triệt dịch hai ô mà nhìn qua vẫn có vẻ hợp lý. Mẹo can Nhâm, Quý giúp kiểm lại.
- Dùng can chi năm dương lịch. Người sinh trước Tết bị gán can chi năm sau làm sai cả Tuần lẫn Triệt.
- Gán Tuần, Triệt vào một ô thay vì một cặp. Khi chuyển lá số sang bảng ghi chép, chỉ ghi vào một ô là mất một nửa thông tin.
Tuần, Triệt nằm ở đâu trong chuỗi lập lá số
Trong chuỗi mười hai bước lập lá số, Tuần và Triệt là bước độc lập: chúng không cần cung Mệnh, không cần cục, không cần chính tinh. Bạn có thể an chúng ngay sau khi biết can chi năm sinh, thậm chí trước cả khi định Mệnh. Nhiều người học chọn làm bước này sớm để có thêm một mốc kiểm năm sinh: nếu Tuần, Triệt của bạn khác lá số in sẵn, vấn đề nằm ở năm âm lịch, cần giải quyết trước khi đi tiếp.
Ngược lại, vì độc lập với phần còn lại, Tuần Triệt không giúp kiểm được giờ sinh hay tháng sinh. Một lá số sai giờ vẫn có Tuần Triệt đúng chỗ. Đừng lấy việc Tuần Triệt khớp làm bằng chứng lá số đúng toàn bộ; nó chỉ cho biết năm sinh âm lịch đã được nhập đúng.
Có một liên hệ đáng biết với các bước khác: can năm quyết định cả Triệt, Lộc Tồn, Khôi Việt, Tứ Hoá và can của mười hai cung; chi năm quyết định Tuần cùng với Thái Tuế, Thiên Mã, Hồng Loan. Vì thế khi Tuần Triệt sai do nhầm năm, bạn nên coi như cả lớp sao theo năm và có thể cả cục đều cần lập lại, chứ không chỉ sửa hai dấu này. Sửa riêng Tuần Triệt trên một lá số sai năm chỉ tạo ra một tờ lá số không nhất quán, khó phát hiện hơn lỗi ban đầu.
Cách vẽ Tuần, Triệt trên lá số
Trên lá số in, Tuần và Triệt thường được vẽ như một dấu đặt trên đường ranh giữa hai ô, vì chúng gắn với cả cặp chứ không riêng ô nào. Có lá số ghi chữ "Tuần" hay "Triệt" vào cả hai ô; có lá số chỉ ghi một chữ ở giữa cạnh chung. Đây là cách trình bày, không phải quy tắc an khác nhau. Khi chuyển lá số giấy sang bảng tính hay sổ ghi chép, nên ghi Tuần, Triệt cho cả hai ô để không bỏ sót.
Một lỗi trình bày hay gặp ở lá số chép tay là vẽ dấu lệch sang ranh giữa hai ô khác, ví dụ vẽ giữa Dậu và Tuất thay vì giữa Tuất và Hợi. Phép kiểm ở mục trên bắt được ngay: Tuần luôn nằm trên ranh của một cặp bắt đầu bằng chi dương, nên ranh Dậu – Tuất không thể là chỗ của Tuần.
Bài này dừng ở việc đặt đúng chỗ. Ý nghĩa của Tuần, Triệt và cách các sách luận khi hai dấu rơi vào cung này cung kia thuộc phần luận giải, nằm ngoài việc kiểm tra tính đúng của lá số. Nếu bạn lập lá số trên AI Huyền Học, có thể dùng ngay bảng Triệt và phép lùi về can Giáp ở trên để đối chiếu hai dấu này trong vài giây.
Câu hỏi thường gặp
Tuần và Triệt khác nhau ở dữ kiện nào?
Tuần phụ thuộc cả can lẫn chi năm sinh, vì phải biết năm đó thuộc tuần Giáp nào. Triệt chỉ phụ thuộc can năm sinh. Vì thế hai người cùng can khác chi có cùng Triệt nhưng có thể khác Tuần.
Vì sao gọi là tuần Giáp Tý, Giáp Tuất?
Mỗi tuần mười năm trong vòng sáu mươi được gọi theo cặp can chi mở đầu, luôn là can Giáp. Sáu tuần là Giáp Tý, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần, nối nhau thành vòng.
Năm nào Tuần và Triệt trùng nhau?
Trong vòng sáu mươi năm có mười năm: Giáp Tuất, Ất Dậu, Bính Thân, Đinh Mùi, Mậu Ngọ, Kỷ Mão, Canh Dần, Tân Sửu, Nhâm Tý, Quý Hợi. Các năm khác, Tuần và Triệt nằm ở hai cặp ô tách rời.
Tuần, Triệt có đổi theo giới tính không?
Không. Cả hai chỉ phụ thuộc can chi năm sinh, nên nam và nữ sinh cùng năm âm lịch có Tuần, Triệt ở cùng chỗ trên lá số, không có ngoại lệ theo âm dương nam nữ.
Người sinh trước Tết có bị đặt Tuần Triệt sai không?
Có thể, nếu người lập dùng năm dương lịch. Người sinh tháng Một dương lịch thường vẫn thuộc năm âm lịch trước, có can chi khác hẳn. Sai năm thì Tuần, Triệt cùng toàn bộ sao theo năm đều sai.
Mẹo nhớ Triệt bằng can Nhâm, Quý có phải nguồn gốc của quy tắc không?
Bài chỉ khẳng định mẹo đó khớp với bảng Triệt ở cả năm dòng. Các giải thích về nguồn gốc khác nhau giữa các tài liệu, nên ở đây chỉ dùng nó như một cách nhớ và một phép kiểm.