Muốn biết một bảng an sao trong sách tiếng Việt có trung thành với sách gốc hay không, cách chắc nhất là đặt nó cạnh bảng hoặc câu quyết tương ứng trong bản chữ Hán và so từng ô. Việc này nghe như việc của nhà nghiên cứu, nhưng thực ra người không giỏi Hán văn vẫn làm được nếu có quy trình và biết nhận mặt mấy chục chữ: mười can, mười hai chi và tên các sao chính.
Bài này đưa ra sáu bước, dùng được cho mọi bảng theo can, theo chi, theo tháng hay theo giờ. Mục đích là tìm và ghi lại khác biệt, không phải tuyên bố bên nào đúng. Một bảng dịch khớp hoàn toàn bản gốc chỉ cho biết bản dịch trung thành; nó không làm cho lời giải trên lá số trở thành điều được kiểm chứng.
Vì sao bản dịch có thể lệch bản gốc
Bản dịch lệch bản gốc vì ba lý do chính. Thứ nhất, người dịch có thể dùng một bản chữ Hán khác với bản bạn đang cầm. Các bộ đẩu số có nhiều lần khắc in, và các lần khắc không giống nhau tuyệt đối. Khi đó bản dịch không sai, chỉ là dịch từ một nguồn khác.
Thứ hai, người dịch có thể đọc nhầm chữ. Nhiều cặp chữ Hán trông rất giống nhau, nhất là trong bản khắc gỗ mờ hay bản sao chụp nhiều đời. Đọc nhầm một chữ chi là một ô trong bảng nhảy sang cung khác. Bài viết khác của trang đi riêng vào các cặp chữ hay nhầm.
Thứ ba, người biên soạn có thể chủ ý sửa. Họ thấy hai sách ghi khác nhau, chọn một bên theo kinh nghiệm của mình, rồi in ra bảng như thể đó là bản gốc. Đây là chỗ khó nhất, vì muốn biết phải đọc lời tựa, phần chú thích, hay các đoạn bàn luận rải rác trong sách. Không phải người biên soạn nào cũng nói rõ mình đã sửa.
Biết ba lý do này giúp bạn không vội kết luận "sách dịch sai". Phần lớn khác biệt có lý do, và việc của người đối chiếu là tìm ra lý do đó hoặc ghi lại là chưa tìm ra.
Sáu bước đối chiếu một bảng
Chuẩn bị hai bản: bản chữ Hán (hoặc bản tiếng Việt có in kèm nguyên văn) và bản dịch cần kiểm. Một tờ giấy kẻ ô, một bút chì, một bút màu.
- Xác định đúng bảng tương ứng. Cùng một sao có thể được an bằng nhiều quy tắc ở nhiều phần khác nhau của sách. Ghi rõ: bảng đang so là quy tắc an sao gì, theo đầu vào gì (can năm, chi năm, tháng, giờ), ở trang nào của mỗi bản.
- Chuẩn hoá tên gọi. Lập danh sách tên can, chi, tên sao trong bản chữ Hán và phiên âm Hán Việt tương ứng trong bản dịch. Nếu bản dịch dùng tên khác (ví dụ Tràng Sinh thay vì Trường Sinh), ghi cặp tương đương vào danh sách.
- Chép bản gốc sang bảng của mình. Kẻ bảng theo đúng hàng và cột của bản dịch, nhưng điền bằng nội dung đọc từ bản chữ Hán. Nếu bản gốc là câu quyết, giải câu quyết thành bảng trước.
- So từng ô, đánh dấu bằng màu. Ô khớp để nguyên; ô lệch tô màu. Đừng sửa gì ở bước này, chỉ đánh dấu.
- Phân loại từng ô lệch. Với mỗi ô tô màu, hỏi: có phải hai chữ gần giống nhau bị đọc nhầm không; có sách nào khác ghi giống bản dịch không; bản dịch có lời chú nào về ô này không. Ghi kết luận tạm: lỗi đọc, dị bản, chọn lựa của người soạn, hay chưa rõ.
- Ghi biên bản đối chiếu. Một đoạn ngắn: hai bản đã so, số ô đã so, số ô lệch, từng ô lệch thuộc loại nào. Lưu cùng sổ quy tắc của bạn.
Bước 5 là bước tốn công nhất, và đôi khi kết luận chỉ là "chưa rõ". Đó vẫn là một kết luận trung thực, tốt hơn nhiều so với việc chọn bừa một bên rồi quên rằng mình đã chọn.
Mẫu biên bản đối chiếu
Mẫu dưới là ví dụ giả định cho một bảng theo can năm, mười hàng. Bạn điền tên hai bản bằng mô tả thật của mình; ở đây để chung chung.
| Mục | Nội dung ghi | Ví dụ giả định |
|---|---|---|
| Bảng đang so | Tên quy tắc, đầu vào | An Thiên Khôi, Thiên Việt theo can năm |
| Bản A | Bản chữ Hán, lần in, trang | Bản chữ Hán in lại có kèm chú thích, trang ghi rõ |
| Bản B | Bản dịch, người soạn, lần in, trang | Một sách tiếng Việt in thế kỷ XX, trang ghi rõ |
| Số ô đã so | Đếm | 20 ô (10 can, 2 sao) |
| Số ô lệch | Đếm và liệt kê | 2 ô: can Canh, cả Khôi lẫn Việt |
| Phân loại | Lỗi đọc, dị bản, chọn lựa, chưa rõ | Dị bản: có sách xếp Canh cùng Tân |
| Ghi chú | Lời giải của người soạn nếu có | Bản B không giải thích lý do chọn |
| Người đối chiếu, ngày | Ghi để lần sau biết ai đã làm | Tên viết tắt, ngày tháng |
Biên bản ngắn như vậy đủ để người khác, hoặc chính bạn vài năm sau, hiểu ngay bảng đã được kiểm đến đâu. Nếu không có biên bản, lần kiểm sau phải làm lại từ đầu.
Những chỗ nên so kỹ hơn cả
Hàng của các can, chi hay bị nhóm. Câu quyết hay gom hai ba can vào một nhóm; bản dịch tách thành từng hàng. Khi tách, người soạn dễ chép nhầm nhóm, nên các hàng thuộc nhóm có dị bản đã biết (như can Canh với Khôi Việt) cần so trước.
Ô liên quan tới chiều thuận nghịch. Những sao an bằng cách đếm từ một cung khởi, tuỳ âm dương nam nữ mà đi thuận hay nghịch. Bản dịch có khi chỉ in một chiều; bản gốc có khi chỉ nói ngắn. Đây là chỗ hai bản lệch nhau nhiều nhất.
Tên sao có hai cách gọi. Nếu bản dịch dùng tên khác bản gốc, chưa chắc là cùng một sao. Kiểm bằng vị trí và quy tắc an, đừng chỉ dựa vào tên.
Ô nằm ở mép trang hoặc chỗ gập. Bản sao chụp hay mất chữ ở mép, ở chỗ gáy sách. Một ô trống hoặc mờ ở bản gốc có khi bị người dịch tự điền.
Ô có chữ gần giống chữ khác. Ô chứa các chi như Tỵ, Mùi, Tuất, hay các can Kỷ, Mậu, Nhâm là những ô nên so bằng mắt hai lần, vì chúng có chữ "anh em" trông gần như nhau.
Không đọc được chữ Hán thì làm thế nào
Bạn không cần đọc trôi Hán văn để làm sáu bước trên. Danh sách cần nhận mặt chỉ gồm mười can, mười hai chi, tên khoảng ba bốn chục sao thường dùng, và vài chữ chỉ chiều đi như thuận, nghịch. In danh sách này ra một tờ, đặt cạnh khi so, sau vài lần là quen mắt.
Với câu quyết dài hay lời giải có ngữ pháp phức tạp, hãy nhờ người đọc được Hán văn, hoặc dùng các từ điển Hán Việt để tra từng chữ. Khi nhờ người, đưa họ đúng đoạn cần đọc kèm ảnh chụp trang, kèm câu hỏi cụ thể ("ô này là chữ Tỵ hay chữ Kỷ"), thay vì hỏi chung "đoạn này nói gì".
Nếu dùng công cụ nhận dạng chữ hoặc công cụ dịch để đọc bản chữ Hán, hãy coi kết quả là bản nháp. Công cụ nhận dạng chữ rất hay nhầm chính những cặp chữ giống nhau mà bạn đang cần phân biệt, nên ô nào quan trọng thì phải nhìn tận mắt trên ảnh gốc.
Đối chiếu xong thì dùng kết quả thế nào
Kết quả đối chiếu có ba cách dùng. Cách thứ nhất là sửa bảng của riêng bạn: ô nào là lỗi đọc thì sửa theo bản gốc, ô nào là dị bản thì giữ một bên và ghi chú bên còn lại. Bảng sau khi sửa trở thành thước đo cho các bảng khác.
Cách thứ hai là ghi chú lên chính cuốn sách dịch, bằng bút chì ở lề, để lần sau mở ra là thấy ngay. Nhiều người học tử vi lâu năm có những cuốn sách đầy ghi chú kiểu này; chúng có giá trị hơn một cuốn mới tinh.
Cách thứ ba là chia sẻ biên bản cho người cùng học. Khi chia sẻ, giữ giọng mô tả: "bản này và bản kia khác nhau ở ô này", tránh giọng phán "sách kia dịch sai". Người dịch thế hệ trước làm việc trong điều kiện thiếu tư liệu hơn bây giờ nhiều, và nhiều khác biệt có lý do mà người sau chưa thấy.
Dù dùng theo cách nào, hãy nhớ đối chiếu chỉ trả lời câu hỏi "bản dịch có trung thành không". Nó không trả lời câu hỏi "quy tắc này có đúng với đời không"; câu hỏi sau thuộc về phương pháp kiểm chứng, một chuyện riêng và khó hơn nhiều.
Ví dụ giả định: một ô Tứ Hoá lệch giữa hai bản
Ví dụ giả định: bạn so bảng Tứ Hoá theo can năm giữa một bản chữ Hán in lại và một sách tiếng Việt. Chín can khớp hoàn toàn, chỉ can Nhâm lệch ở sao hoá Khoa: bản chữ Hán ghi một sao, bản tiếng Việt ghi sao khác. Theo sáu bước, bạn tô màu ô đó, rồi chuyển sang bước phân loại.
Câu hỏi đầu tiên: có phải hai chữ gần giống nhau bị đọc nhầm không. Tên hai sao ở đây khác nhau hoàn toàn về hình chữ, nên khả năng đọc nhầm thấp. Câu hỏi thứ hai: có sách nào khác ghi giống bản tiếng Việt không. Bạn mở thêm hai sách tiếng Việt khác người soạn và thấy một cuốn ghi giống bản chữ Hán, một cuốn ghi giống bản đang kiểm. Đến đây có thể kết luận tạm: đây là dị bản đã lưu hành, không phải lỗi đọc.
Câu hỏi thứ ba: người soạn có giải thích không. Đọc lời chú quanh bảng thì không thấy dòng nào. Biên bản ghi: "Can Nhâm, hoá Khoa: dị bản; bản B chọn một bên, không giải thích." Bạn không cần biết bên nào đúng để có một biên bản hữu ích; chỉ cần biết ô này có hai cách ghi, và lá số nào lập theo bản B thì người sinh năm can Nhâm sẽ thấy hoá Khoa ở vị trí khác với lá số lập theo bản kia.
Ví dụ cũng cho thấy vì sao nên so bảng Tứ Hoá trước nhiều bảng khác: Tứ Hoá theo can là chỗ các sách và các lối an sao ghi khác nhau khá nhiều, và mỗi khác biệt kéo theo cách đọc cả một vùng lá số. Danh mục khác của trang đi riêng vào từng điểm lệch của Tứ Hoá; ở đây chỉ dùng nó làm ví dụ cho quy trình.
Câu hỏi thường gặp
Không có bản chữ Hán thì có đối chiếu được không?
Được, nhưng yếu hơn. Bạn có thể so hai ba sách tiếng Việt khác người soạn với nhau; ô nào các sách đều ghi giống nhau thì đáng tin hơn, ô nào khác nhau thì cần tìm bản gốc hoặc hỏi người có bản gốc.
So một bảng mất bao lâu?
Bảng theo can mười hàng mất chừng hai mươi đến ba mươi phút nếu đã quen nhận mặt chữ. Bảng theo giờ hay theo tháng nhiều ô hơn, có thể mất cả buổi. Phần lâu nhất thường là phân loại các ô lệch.
Thấy bản dịch lệch bản gốc thì có nên bỏ sách dịch đó không?
Không cần. Một vài ô lệch không làm cả cuốn sách mất giá trị. Hãy ghi chú ô lệch và tiếp tục dùng phần còn lại, đồng thời kiểm thêm những bảng khác của cuốn đó khi cần dùng đến.
Dùng công cụ dịch máy để đọc bản chữ Hán có được không?
Dùng để đọc lướt thì được, nhưng công cụ nhận dạng và dịch máy hay nhầm các chữ gần giống nhau như Kỷ và Tỵ, Mậu và Tuất. Ô quan trọng phải nhìn tận mắt trên ảnh gốc hoặc hỏi người đọc được Hán văn.
Bản dịch khớp hoàn toàn bản gốc thì lá số lập theo đó có đáng tin không?
Nó đáng tin ở nghĩa là lá số trung thành với quy tắc của sách gốc. Còn việc lời giải trên lá số có đúng với đời người hay không thì đối chiếu bảng không trả lời được.
Có nên đối chiếu tất cả các bảng trong sách không?
Không cần. Bắt đầu với những bảng mà bạn thấy các lá số hay lệch nhau, như Khôi Việt, Tứ Hoá, Hoả Tinh và Linh Tinh, rồi mở rộng dần khi gặp vấn đề ở bảng khác.