TuViChinhXac.comTử Vi Chính Xác
Sách gốc, bản dịch và nguồn quy tắc

Chữ Hán dễ chép nhầm trong sách tử vi: Kỷ và Tỵ, Mậu và Tuất, Mùi và Mạt

Một nét thừa hay thiếu biến can Kỷ thành chi Tỵ, can Mậu thành chi Tuất. Những cặp chữ hay nhầm trong sách tử vi và cách bắt lỗi khi đọc bảng an sao.

Extreme close-up of a fingertip resting beside faded brush strokes on brittle old paper, a magnifying glass edge in frame, warm lamp light in a Nam Định study

Trong sách tử vi chữ Hán, nhiều can và chi có "anh em sinh đôi" chỉ khác một nét: can Kỷ (己), chi Tỵ (巳) và chữ dĩ (已); can Mậu (戊), chi Tuất (戌) và chữ thú (戍); chi Mùi (未) và chữ mạt (末). Một nét mực nhoè trên bản khắc gỗ, một lần chép vội, là một ô trong bảng an sao nhảy sang chỗ khác.

Bài này gom những cặp chữ hay gây lỗi khi chép và dịch sách tử vi, giải thích vì sao chúng dễ nhầm, và đưa ra cách bắt lỗi dựa vào ngữ cảnh. Bạn không cần biết nhiều chữ Hán; chỉ cần nhận ra các cặp này và biết nghi đúng chỗ. Kiểm chữ giúp lá số trung thành với sách, nhưng không vì thế mà lời đoán trên lá số trở thành điều được chứng minh.

Những cặp chữ hay nhầm nhất

Bảng dưới liệt kê các nhóm chữ thường gặp trong bảng an sao. Cột cuối nói cách phân biệt bằng mắt; khi bản in mờ, hãy dựa vào ngữ cảnh ở mục sau.

Nhóm chữĐọc và nghĩaChỗ khác nhauNhầm thì hậu quả gì
己 · 巳 · 已Kỷ (can) · Tỵ (chi) · dĩ (đã)Nét dọc bên trái: Kỷ hở, dĩ hở một nửa, Tỵ khép kínCan thành chi: một hàng của bảng theo can bị đọc như chi
戊 · 戌 · 戍Mậu (can) · Tuất (chi) · thú (đồn canh)Bên trong: Mậu trống, Tuất có nét ngang, thú có chấmHàng Mậu bị đọc thành cung Tuất hoặc ngược lại
未 · 末Mùi (chi) · mạt (ngọn, cuối)Mùi nét ngang trên ngắn hơn nét dưới; mạt thì ngược lạiCung Mùi bị đọc thành chữ thường, ô bị bỏ trống
壬 · 王Nhâm (can) · vương (vua)Nhâm có thêm nét phẩy ở trên cùng, vương thì khôngMất can Nhâm, hàng bị gán sai
卯 · 卵Mão (chi) · noãn (trứng)Noãn có hai chấm bên trongCung Mão thành chữ khác nghĩa
午 · 牛Ngọ (chi) · ngưu (trâu)Ngưu có nét dọc vượt lên trênNgọ và Sửu lẫn nhau vì trâu là con vật của Sửu
申 · 甲 · 由Thân (chi) · Giáp (can) · doNét dọc ở giữa: Thân xuyên cả trên dưới, Giáp xuyên xuống dưới, do xuyên lên trênCan và chi đổi chỗ trong cùng bảng
辛 · 幸Tân (can) · hạnh (may)Phần trên khác nhauMất can Tân
祿 · 綠 · 錄lộc (Lộc Tồn, Hoá Lộc) · lục (xanh) · lục (ghi chép)Bộ thủ bên trái: kỳ, mịch, kimTên sao bị dịch sai nghĩa

Mô tả nét ở bảng là mô tả chữ in chuẩn ngày nay. Trên bản khắc gỗ hay bản chép tay, hình chữ biến thiên nhiều; đừng chỉ dựa vào hình, hãy kiểm thêm bằng ngữ cảnh.

Vì sao sách tử vi đặc biệt dễ dính các lỗi này

Văn bản thường như thơ, sử, chữ nào sai thì câu văn hay bị gãy nghĩa, người đọc dễ phát hiện. Bảng an sao thì khác: một bảng là một chuỗi tên can, tên chi, tên sao xếp cạnh nhau, không có ngữ pháp để kiểm. Chữ Kỷ bị khắc thành chữ Tỵ vẫn là một chữ hợp lệ trong bảng, đọc lên không thấy gì bất thường.

Thêm vào đó, sách tử vi lưu hành qua nhiều kênh không chính thống: bản khắc của nhà in tư, bản chép tay của thầy truyền cho trò, bản sao chụp của bản sao chụp. Mỗi kênh có khả năng sai riêng. Bản khắc gỗ hay mòn nét qua nhiều lần in; bản chép tay phụ thuộc thói quen viết của người chép; bản sao chụp làm mất nét mảnh, nhất là những nét ngắn quyết định chữ đó là Kỷ hay Tỵ.

Cuối cùng, người đọc bảng thường đọc rất nhanh vì chỉ tìm một ô. Mắt đã quen thấy chữ Tỵ trong cột cung thì dễ đọc mọi chữ giống Tỵ thành Tỵ. Sự quen thuộc này giúp đọc nhanh nhưng che đi lỗi.

Bắt lỗi bằng ngữ cảnh, không chỉ bằng mắt

Hỏi chữ đó nằm ở cột nào. Trong bảng an sao theo can năm, cột đầu vào chỉ chứa can, cột kết quả chỉ chứa chi (tên cung). Thấy chữ giống Kỷ ở cột kết quả thì gần như chắc là Tỵ; thấy chữ giống Tuất ở cột đầu vào thì gần như chắc là Mậu.

Đếm đủ bộ. Cột đầu vào theo can phải có đủ mười can; theo chi phải có đủ mười hai chi. Thiếu Kỷ mà thừa một Tỵ trong cột can là dấu hiệu đọc nhầm.

Kiểm bằng quy luật của bảng. Mỗi bảng có quy luật riêng: Lộc Tồn không rơi vào Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; Khôi Việt không trùng cung. Một ô vi phạm quy luật thường là ô có chữ bị đọc nhầm.

So với câu quyết. Câu quyết dùng con vật thay cho chi. Nếu bảng ghi Ngọ mà câu quyết nói trâu, hoặc bảng ghi Sửu mà câu quyết nói ngựa, có thể đã có người nhầm Ngọ với ngưu ở một chặng nào đó.

So với một bản in khác. Hai bản khắc độc lập ít khi mòn ở cùng một nét. Ô nào mờ ở bản này thường rõ ở bản kia.

Quy trình kiểm chữ cho một trang bảng

Làm khi bạn chuẩn bị chép một bảng chữ Hán sang bảng tiếng Việt, hoặc khi kiểm một bản dịch.

  1. Chụp trang gốc ở độ phân giải cao, ánh sáng đều, không đèn flash. Giữ ảnh gốc, không chỉnh tương phản quá tay vì dễ làm mất nét mảnh.
  2. Khoanh tròn mọi chữ thuộc các nhóm trong bảng ở mục đầu: Kỷ, Tỵ, Mậu, Tuất, Mùi, Nhâm, Mão, Ngọ, Thân, Giáp, Tân, lộc.
  3. Với mỗi chữ khoanh, ghi cách đọc theo hình và cách đọc theo ngữ cảnh (cột nào, bộ đủ chưa, quy luật bảng có thoả không).
  4. Chữ nào hai cách đọc trùng nhau thì đánh dấu đã kiểm. Chữ nào hai cách đọc khác nhau thì tra bản in thứ hai hoặc hỏi người đọc được Hán văn.
  5. Ghi danh sách các chữ đã sửa và lý do, lưu cùng bảng đã chép. Người khác nhìn vào biết ô nào là đọc thẳng, ô nào là đã sửa theo suy luận.

Năm bước trên nghe chậm, nhưng một trang bảng thường chỉ có mười đến hai mươi chữ thuộc các nhóm dễ nhầm. Làm một lần cho mỗi bảng bạn dùng, bạn sẽ có một bộ bảng sạch và biết rõ chỗ nào từng có vấn đề.

Lỗi nằm ở tên sao chứ không chỉ ở can chi

Can chi là chỗ dễ nhầm nhất vì xuất hiện nhiều nhất, nhưng tên sao cũng có lỗi riêng. Chữ lộc trong Lộc Tồn và Hoá Lộc có bộ kỳ (bộ thị) bên trái; chép sang bộ mịch thành chữ lục (màu xanh), sang bộ kim thành chữ lục (ghi chép). Người không để ý bộ thủ có thể đọc ra một tên sao không tồn tại, hoặc dịch nghĩa thành "xanh" và "ghi".

Chữ vi trong tên sao Tử Vi (紫微) cũng hay bị viết thành chữ vi là hoa tường vi (薇), vì hai chữ đọc giống nhau và chữ thứ hai quen trong tên người, tên hoa. Trong sách đẩu số, Tử Vi là tên một ngôi sao gắn với vùng trời quanh sao Bắc Cực, không liên quan đến hoa. Thấy bản in dùng chữ có bộ thảo đầu thì biết bản đó đã qua tay người chép không rành.

Những chữ trong tên các vòng sao, như các trạng thái của vòng Tràng Sinh, cũng cần đọc kỹ. Chữ trường (長) trong Trường Sinh và cách đọc Tràng là cùng một chữ; đây là khác biệt đọc âm, không phải lỗi chép. Phân biệt khác biệt đọc âm với lỗi chép giúp bạn không "sửa" những chỗ không cần sửa.

Lỗi sinh ra trong thời số hoá

Khi sách cổ được gõ lại thành văn bản số, có thêm một tầng lỗi mới. Người gõ dùng bộ gõ theo âm có thể chọn nhầm chữ đồng âm; công cụ nhận dạng chữ có thể đọc chữ Tỵ thành chữ Kỷ vì nét mờ. Văn bản số trông sạch sẽ, phông chữ chuẩn, nên người đọc càng ít nghi ngờ hơn bản khắc mờ.

Cách phòng là giữ liên kết giữa văn bản số và ảnh trang gốc. Khi chép một bảng từ văn bản số, hãy mở ảnh trang gốc bên cạnh, ít nhất là cho các chữ thuộc nhóm dễ nhầm. Nếu văn bản số không kèm ảnh gốc và không ghi lấy từ bản nào, hãy coi nó như một nguồn thứ cấp, giá trị kiểm chứng thấp hơn bản in có lý lịch rõ.

Một lời nhắc cuối: sửa được một chữ chép nhầm giúp lá số trung thành với sách gốc hơn. Đó là việc chính xác dữ liệu, giống như sửa một lỗi đánh máy trong bảng số liệu. Nó không làm tăng hay giảm giá trị dự đoán của tử vi, vốn là câu hỏi cần những phương pháp kiểm chứng khác hẳn.

Danh sách mang theo khi đọc một bảng chữ Hán

In danh sách dưới ra một tờ, kẹp vào sách. Mỗi lần gặp một chữ thuộc danh sách trong bảng an sao, dừng lại một nhịp và kiểm bằng ngữ cảnh.

  • Ba chữ hình rắn cuộn: Kỷ (can), Tỵ (chi), dĩ (chữ thường). Ở cột can thì nghiêng về Kỷ, ở cột cung thì nghiêng về Tỵ, chữ dĩ hầu như không xuất hiện trong ô bảng.
  • Ba chữ hình ngọn giáo: Mậu (can), Tuất (chi), thú (chữ thường). Cùng cách xét như trên.
  • Hai chữ hình cây: Mùi (chi), mạt (chữ thường). Trong bảng cung, gần như chắc chắn là Mùi.
  • Ba chữ có nét dọc giữa: Thân (chi), Giáp (can), do (chữ thường). Nhìn nét dọc thò lên hay thò xuống.
  • Cặp Ngọ và ngưu: nhớ ngưu là trâu, mà trâu thuộc Sửu; nhầm ở đây là nhầm hai cung cách nhau xa.
  • Cặp Nhâm và vương, Tân và hạnh, Mão và noãn: mỗi cặp một chữ can chi và một chữ thường; trong ô bảng, chữ can chi là lựa chọn hợp lý.
  • Chữ lộc và các chữ lục: nhìn bộ thủ bên trái trước khi đọc tên sao.

Danh sách này không thay được việc học chữ Hán, nhưng đủ để bạn nghi đúng chỗ. Nghi đúng chỗ rồi thì tra từ điển, so bản khác hay hỏi người thạo chữ đều nhanh hơn rất nhiều so với việc nghi ngờ cả trang.

Câu hỏi thường gặp

Làm sao phân biệt can Kỷ với chi Tỵ khi bản in quá mờ?

Dựa vào vị trí trong bảng. Ở cột đầu vào theo can thì là Kỷ, ở cột cung kết quả thì là Tỵ. Kiểm thêm bằng cách đếm đủ mười can hoặc mười hai chi và so với một bản in khác nếu có.

Tràng Sinh và Trường Sinh có phải hai sao khác nhau không?

Không. Đó là hai cách đọc Hán Việt của cùng một chữ, chỉ trạng thái đầu của vòng mười hai trạng thái. Sách tử vi tiếng Việt quen dùng Tràng Sinh, nhiều nơi khác đọc Trường Sinh.

Bản số hoá trông sạch sẽ thì có đáng tin hơn bản khắc mờ không?

Chưa chắc. Bản số hoá có thể chứa lỗi do bộ gõ chọn nhầm chữ đồng âm hoặc do nhận dạng chữ đọc sai nét mờ. Nếu không kèm ảnh trang gốc và không ghi nguồn, nên coi là nguồn thứ cấp.

Có nên tự sửa chữ trong bảng khi nghi bị chép nhầm không?

Nên sửa trên bản chép của riêng bạn, nhưng phải ghi rõ ô nào đã sửa, sửa từ chữ gì sang chữ gì và vì lý do gì. Như vậy người khác kiểm lại được, và nếu sau này thấy sửa sai thì còn đường quay về.

Không biết chữ Hán thì cần nhớ tối thiểu bao nhiêu chữ?

Mười can, mười hai chi và tên khoảng ba bốn chục sao thường dùng là đủ để kiểm bảng an sao. Thêm các cặp chữ dễ nhầm trong bài này là bạn bắt được phần lớn lỗi chép thường gặp.

Sửa đúng chữ thì lá số có đoán đúng hơn không?

Sửa đúng chữ chỉ giúp lá số trung thành với quy tắc trong sách. Việc lá số có đoán đúng đời người hay không là câu hỏi khác, đến nay chưa có bằng chứng thực nghiệm vững.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183