Người sinh ở Liên Xô cũ và các nước Đông Âu trong thập niên 1980 cần tra giờ mùa hè theo đúng quy tắc của nơi đó, năm đó, vì các quy tắc này khác hẳn quy tắc châu Âu hiện nay: Liên Xô bắt đầu đổi giờ từ năm 1981, có những năm đổi vào ngày cố định trong tháng, và kết thúc giờ mùa hè vào cuối tháng Chín chứ không phải cuối tháng Mười. Các nước Đông Âu bắt đầu áp dụng giờ mùa hè vào những năm khác nhau, nên một bảng chung cho "Đông Âu" là không đủ.
Thế hệ con của lưu học sinh, nghiên cứu sinh, người lao động hợp tác thời đó nay đã ngoài ba mươi, nhiều người muốn lập một lá số tử vi để tìm hiểu văn hoá. Bài này nêu các mốc theo cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế, đã kiểm bằng phần mềm đọc cơ sở dữ liệu đó, kèm ví dụ giả định. Dữ liệu vào đúng giúp lá số khớp quy ước; nó không biến những lời đọc từ lá số thành điều đã được chứng minh.
Giờ Moscow qua các giai đoạn
Bảng dưới tóm tắt giờ ở Moscow theo cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế. Các thành phố khác của Liên Xô cũ thuộc nhiều múi giờ khác nhau, và ở một số nước cộng hoà cũ quy tắc đổi giờ còn thay đổi sau năm 1990, nên chỉ dùng bảng này cho Moscow và các nơi chắc chắn dùng giờ Moscow.
| Giai đoạn | Giờ chuẩn | Giờ mùa hè | Mốc đổi giờ |
|---|---|---|---|
| Trước 1981 | UTC+3 | Không áp dụng | Không đổi giờ |
| 1981–1983 | UTC+3 | UTC+4 | Ngày cố định: 1 tháng 4 và 1 tháng 10 |
| 1984–1995 | UTC+3 | UTC+4 | Cuối tháng Ba đến cuối tháng Chín, đổi vào Chủ nhật (năm 1984 bắt đầu 1/4, kết thúc cuối tháng Chín) |
| 1996–2010 | UTC+3 | UTC+4 | Cuối tháng Ba đến cuối tháng Mười |
| 2011–tháng 10/2014 | UTC+4 quanh năm | Không đổi giờ | Giữ nguyên một mức suốt năm |
| Từ 26/10/2014 | UTC+3 | Không áp dụng | Không đổi giờ |
Năm 1991–1992 Moscow còn có một quãng ngắn ở UTC+2 rồi trở lại UTC+3. Nếu sinh trong khoảng cuối 1991 đầu 1992, tra theo ngày cụ thể.
Kyiv và Minsk dùng giờ Moscow trong phần lớn thập niên 1980, rồi chuyển sang UTC+2 vào khoảng 1990–1991 theo cơ sở dữ liệu múi giờ. Người sinh ở hai thành phố này quanh mốc đó cũng nên tra theo ngày.
Ví dụ giả định: sinh ở Moscow ngày 15 tháng 10 năm 1988
Em bé sinh lúc 11 giờ 20 sáng ngày 15 tháng 10 năm 1988 ở Moscow (ví dụ giả định). Năm 1988, giờ mùa hè ở Moscow kết thúc ngày 25 tháng 9, nên ngày 15 tháng 10 đồng hồ đang ở giờ chuẩn UTC+3. Giờ chuẩn nơi sinh là 11 giờ 20, thuộc giờ Ngọ; ngày âm lịch là mồng 5 tháng Chín năm Mậu Thìn.
Người lập lá số quen quy tắc châu Âu hiện nay (giờ mùa hè đến cuối tháng Mười) sẽ thấy tháng Mười nằm trong mùa hè và trừ một tiếng, ra 10 giờ 20, giờ Tỵ. Một tiếng trừ oan này đủ đổi cung Mệnh trên lá số. Quy về giờ Việt Nam, thời điểm đó là 15 giờ 20, giờ Thân, cùng ngày âm lịch.
Cũng em bé đó mà sinh cùng ngày tháng năm 1998 thì Moscow đang ở giờ mùa hè, vì từ năm 1996 mốc kết thúc đã dời sang cuối tháng Mười. Đây là lý do không thể nhớ một quy tắc chung cho "nước Nga": quy tắc đổi theo giai đoạn, và phải tra theo năm.
Đông Âu: mỗi nước bắt đầu một năm
Các nước Đông Âu có nhiều người Việt học tập và lao động trong thập niên 1980 bắt đầu áp dụng giờ mùa hè vào những năm khác nhau, theo cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế. Từ khoảng giữa thập niên 1980, các nước này phần lớn theo nếp lục địa: cuối tháng Ba đến cuối tháng Chín.
| Nước (thành phố tra cứu) | Giờ chuẩn | Giờ mùa hè | Bắt đầu áp dụng giờ mùa hè từ |
|---|---|---|---|
| Ba Lan (Warszawa) | UTC+1 | UTC+2 | 1977 |
| Tiệp Khắc (Praha) | UTC+1 | UTC+2 | 1979 |
| Bulgaria (Sofia) | UTC+2 | UTC+3 | 1979 |
| Đông Đức (khu vực Berlin) | UTC+1 | UTC+2 | 1980 |
| Liên Xô (Moscow) | UTC+3 | UTC+4 | 1981 |
Ví dụ giả định ở Praha: em bé sinh lúc 12 giờ 40 ngày 27 tháng 9 năm 1985 và em khác sinh cùng giờ ngày 8 tháng 10 năm 1985. Giờ mùa hè năm đó kết thúc ngày 29 tháng 9, nên em thứ nhất có giờ chuẩn là 11 giờ 40, em thứ hai là 12 giờ 40. Cả hai vẫn thuộc giờ Ngọ vì không sát ranh, nhưng nếu sinh lúc 13 giờ 30 thì em thứ nhất sẽ là giờ Ngọ còn em thứ hai là giờ Mùi.
Bảng này chỉ cho năm bắt đầu; trong vài năm đầu, ngày chuyển giờ có thể khác nếp chung. Với người sinh trong năm đầu áp dụng ở mỗi nước, nên tra theo ngày cụ thể.
Giấy tờ thời đó và giờ đã bị đổi trước
Giấy khai sinh cấp ở Liên Xô và Đông Âu thường ghi bằng tiếng nước sở tại, và không phải mẫu nào cũng có ô giờ sinh. Nhiều gia đình giữ giờ sinh nhờ giấy ra viện, sổ khám thai, hoặc bức thư gửi về Việt Nam báo tin. Mỗi nguồn có độ tin cậy khác nhau: giờ trên giấy của nhà hộ sinh thường ghi theo đồng hồ treo tường lúc đó, còn giờ trong thư báo tin có khi đã được người viết đổi sang giờ Việt Nam cho người nhà dễ hiểu.
Chuyện "đổi trước" này là bẫy riêng của thế hệ đó. Một lá thư năm 1986 viết "cháu sinh lúc 4 giờ chiều" có thể là giờ Moscow, cũng có thể đã cộng sẵn bốn tiếng thành giờ Hà Nội. Nếu thư và giấy tờ lệch nhau đúng bằng mức chênh múi giờ, gần như chắc là một bên đã quy đổi. Hãy lấy giấy tờ gốc làm chuẩn, coi thư là nguồn phụ.
Một bẫy khác là chính cha mẹ khi kể lại sau ba mươi năm thường nhớ giờ theo nhịp sinh hoạt ("sinh lúc trời vừa tối", "sau bữa trưa"), mà mùa đông ở Moscow trời tối từ khoảng bốn giờ chiều. Những mô tả theo ánh sáng ở xứ lạnh rất khác Việt Nam, nên đừng đổi chúng thành giờ đồng hồ theo cảm nhận của người ở Việt Nam.
Ca sinh đêm ở Moscow: tuổi Bính Dần hay Đinh Mão
Moscow chậm hơn Việt Nam bốn tiếng vào mùa đông. Những ca sinh sau 20 giờ ở Moscow khi quy về giờ Việt Nam đã sang ngày hôm sau, và nếu hôm đó là ngày cuối tháng âm lịch thì tháng cũng đổi. Rơi đúng đêm cuối năm thì đổi luôn cả năm.
Ví dụ giả định: em bé sinh lúc 21 giờ 40 ngày 28 tháng 1 năm 1987 ở Moscow. Theo lịch Việt, ngày 28 tháng 1 năm 1987 là 29 tháng Chạp năm Bính Dần, ngày cuối năm vì tháng Chạp năm đó thiếu; Tết Đinh Mão là ngày 29 tháng 1. Lập theo giờ nơi sinh, em sinh giờ Hợi ngày 29 tháng Chạp, năm Bính Dần. Quy về giờ Việt Nam, thời khắc đó là 1 giờ 40 sáng ngày 29 tháng 1, giờ Sửu mồng Một Tết, năm Đinh Mão.
Can năm và chi năm là dữ kiện an rất nhiều sao trên lá số tử vi, từ Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La, Thiên Khôi, Thiên Việt đến Tứ Hoá và cả vòng Thái Tuế, nên hai lá số này khác nhau ở hàng loạt ô chứ không phải một hai ô. Gia đình thường gọi tuổi theo một trong hai năm từ lúc em bé ra đời, và người lập lá số về sau phải biết rằng tuổi gia đình gọi chưa chắc khớp với quy ước mình chọn. Ghi rõ cả hai khả năng và lý do chọn một.
Ca đặc biệt: Moscow 2011–2014 giữ một mức giờ quanh năm
Chuyện gì đã xảy ra. Theo cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế, từ cuối tháng 3 năm 2011 đến ngày 26 tháng 10 năm 2014, Moscow giữ UTC+4 quanh năm, không đổi giờ mùa đông. Về hành chính, UTC+4 khi đó là giờ chuẩn chính thức, không gọi là giờ mùa hè.
Vì sao gây tranh luận khi lập lá số. Người theo cách "giờ chuẩn nơi sinh" sẽ không trừ gì, vì luật khi đó coi UTC+4 là giờ chuẩn. Người cho rằng giờ chuẩn "thật" của Moscow là UTC+3 sẽ trừ một tiếng. Ví dụ giả định, em bé sinh lúc 11 giờ 10 ngày 5 tháng 12 năm 2012 ở Moscow: theo cách thứ nhất là giờ Ngọ, theo cách thứ hai là 10 giờ 10, giờ Tỵ.
Cách không phải tranh luận. Quy về giờ quốc tế rồi sang giờ Việt Nam thì không phải bàn chuyện tên gọi: thời khắc đó là 7 giờ 10 giờ quốc tế, 14 giờ 10 giờ Việt Nam, giờ Mùi, ngày 22 tháng Mười âm lịch năm Nhâm Thìn. Hoặc nếu muốn giờ mặt trời ở Moscow (khoảng 37,6 độ kinh đông), mặt trời trung bình ở đó vào khoảng UTC+2:30, tức là khoảng 9 giờ 40, giờ Tỵ.
Điều nên ghi. Dù chọn cách nào, ghi lên lá số: sinh ở Moscow giai đoạn giữ UTC+4 quanh năm, đã xử lý theo cách nào. Người đọc lá số sau này sẽ biết vì sao lá số lệch với công cụ chỉ biết bảng giờ mùa hè chung.
Thứ tự làm cho người sinh ở Liên Xô cũ và Đông Âu
- Tìm giấy tờ gốc có giờ sinh: giấy khai sinh, giấy ra viện, sổ khám thai. Nhờ người đọc được tiếng nước đó dịch đúng ô ngày giờ.
- Ghi tên thành phố nơi sinh, không chỉ tên nước; Liên Xô cũ trải trên nhiều múi giờ.
- Tra múi giờ và giờ mùa hè theo ngày cụ thể bằng công cụ dựa trên cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế; với Moscow, nhớ ba mốc 1981, 1996 và giai đoạn 2011–2014.
- Nếu chỉ có giờ trong thư, đối chiếu với giấy tờ; lệch đúng bằng mức chênh múi giờ thì một bên đã đổi sẵn.
- Chọn quy ước (giờ chuẩn nơi sinh, giờ mặt trời, hay giờ Việt Nam), tính ra giờ âm lịch và ngày âm lịch theo lịch Việt.
- Ghi một dòng chú thích lên lá số, nêu rõ nơi sinh, giờ gốc, nguồn giờ và quy ước.
Phần lớn công cụ lập lá số hiện nay không tự xử lý lịch sử giờ của Liên Xô cũ. Cách an toàn là tự tính giờ đã quy đổi theo các bước trên rồi nhập giờ đó, thay vì nhập giờ gốc và hy vọng công cụ làm đúng.
Câu hỏi thường gặp
Sinh ở Moscow tháng Mười năm 1987 có giờ mùa hè không?
Không, nếu sinh sau Chủ nhật cuối tháng Chín. Giai đoạn 1984–1995 giờ mùa hè ở Moscow kết thúc cuối tháng Chín; năm 1987 là ngày 27 tháng 9. Từ năm 1996 mốc kết thúc mới dời sang cuối tháng Mười.
Liên Xô bắt đầu đổi giờ mùa hè từ năm nào?
Theo cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế, Moscow bắt đầu giờ mùa hè từ năm 1981. Ba năm đầu đổi vào ngày cố định 1 tháng 4 và 1 tháng 10, sau đó mới đổi vào Chủ nhật cuối tháng. Trước 1981 không đổi giờ.
Sinh ở Tiệp Khắc năm 1978 có phải trừ giờ mùa hè không?
Theo cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế, Tiệp Khắc bắt đầu giờ mùa hè từ năm 1979, nên năm 1978 không có giờ mùa hè. Với các năm từ 1979 trở đi, tra theo ngày cụ thể vì ngày chuyển giờ thay đổi mỗi năm.
Thư báo tin ghi giờ khác giấy khai sinh thì tin bên nào?
Ưu tiên giấy tờ gốc của nhà hộ sinh hoặc hộ tịch. Nếu hai bên lệch đúng bằng chênh lệch múi giờ với Việt Nam, rất có thể người viết thư đã đổi sẵn sang giờ Việt Nam. Ghi rõ nguồn đã chọn lên lá số.
Sinh ở Moscow năm 2012 thì lấy giờ chuẩn nào?
Giai đoạn 2011–2014 Moscow giữ UTC+4 quanh năm và gọi đó là giờ chuẩn. Có người coi UTC+3 mới là giờ chuẩn thật. Cách tránh tranh luận là quy về giờ quốc tế rồi sang giờ Việt Nam, hoặc tính giờ mặt trời theo kinh độ, và ghi rõ cách đã dùng.
Tra đúng giờ mùa hè Liên Xô thì lá số có giá trị dự đoán không?
Tra đúng chỉ làm cho dữ liệu đầu vào khớp với quy ước, như kiểm một phép tính. Giá trị dự đoán của tử vi là chuyện khác và chưa có bằng chứng ủng hộ; nên đọc lá số như một tài liệu văn hoá được lập cẩn thận.