TuViChinhXac.comTử Vi Chính Xác
Sinh ở nước ngoài và khác múi giờ

Sinh ở Trung Quốc, Nhật, Hàn, Đài Loan: múi giờ cũ, giờ mùa hè và lịch âm nơi sinh

Hàn Quốc từng dùng múi lệch nửa tiếng, Trung Quốc có giờ mùa hè 1986–1991, lịch âm Trung Quốc có ngày khác lịch Việt. Kiểm từng ca trước khi lập lá số.

Vietnamese mother seen from behind folding baby clothes into a cardboard box in a Bac Ninh home, a small rice cooker and thermos on the shelf, soft morning light

Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc hiện đều không dùng giờ mùa hè, nên nhiều người nghĩ sinh ở đó thì chỉ cần cộng trừ múi giờ là xong. Với người sinh từ khoảng năm 2000 trở lại đây thì đúng như vậy; nhưng với người sinh trước đó, mỗi nước từng có những giai đoạn đổi giờ riêng, và Hàn Quốc còn từng dùng múi giờ lệch nửa tiếng. Thêm vào đó, Trung Quốc, Đài Loan và Hàn Quốc vẫn dùng lịch âm, nhưng tính theo múi giờ của họ, nên có những ngày âm lịch khác lịch Việt.

Bài này đi qua từng nước: múi giờ, giai đoạn giờ mùa hè trong quá khứ theo cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế, ví dụ giả định đã tự tính lại, và chuyện ngày âm lịch ghi trên giấy tờ địa phương. Làm đúng các bước giúp lá số khớp quy ước bạn chọn, còn những gì người ta đọc ra từ lá số vẫn chưa được chứng minh là có giá trị dự đoán.

Bốn nơi, bốn lịch sử giờ

Bảng dưới ghi múi giờ hiện nay và các giai đoạn đổi giờ trong quá khứ theo cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế. Những năm có giờ mùa hè, mốc bắt đầu và kết thúc thay đổi theo từng năm, nên chỉ dùng bảng để biết có cần tra hay không.

NơiMúi giờ hiện nayGiờ mùa hè từng cóĐiểm đặc biệt
Nhật BảnUTC+91948–1951Từ 1952 không đổi giờ; Nhật không dùng lịch âm làm lịch chính thức
Hàn QuốcUTC+9Một số năm 1948–1960; 1987–1988Giai đoạn 1954–1961 dùng UTC+8:30
Đài LoanUTC+8Nhiều năm từ 1946 đến 1979Lần cuối áp dụng là mùa hè 1979
Trung Quốc đại lụcUTC+8 cho cả nước1986–1991Cả nước dùng một giờ dù trải rộng khoảng 60 độ kinh
Hồng KôngUTC+8Nhiều năm đến 1979Lịch sử đổi giờ riêng, khác đại lục

Mức chênh với Việt Nam: Nhật, Hàn hơn hai tiếng; Đài Loan, Trung Quốc, Hồng Kông hơn một tiếng. Vì chênh nhỏ, quy về giờ Việt Nam ít khi làm đổi ngày; điều đáng lo hơn là bỏ sót một giai đoạn giờ mùa hè hay múi giờ cũ.

Hàn Quốc: múi nửa tiếng và giờ mùa hè dịp Thế vận hội

Theo cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế, từ tháng 3 năm 1954 đến tháng 8 năm 1961, Hàn Quốc dùng UTC+8:30, và trong giai đoạn đó còn có giờ mùa hè UTC+9:30 vào các mùa hè 1955–1960. Từ tháng 8 năm 1961 trở lại UTC+9. Ví dụ giả định: em bé sinh lúc 9 giờ 10 sáng ngày 5 tháng 3 năm 1958 ở Seoul. Giờ đồng hồ khi đó là UTC+8:30, không phải giờ mùa hè; quy về giờ Việt Nam là 7 giờ 40, giờ Thìn, trong khi người tưởng Hàn Quốc luôn hơn Việt Nam hai tiếng sẽ ra 7 giờ 10, cũng giờ Thìn nhưng chỉ cách ranh mười phút. Sinh lúc 8 giờ 40 thì sai số nửa tiếng này đủ đổi giờ: tính đúng là 7 giờ 10, giờ Thìn; tính theo "luôn hơn hai tiếng" ra 6 giờ 40, giờ Mão.

Giai đoạn thứ hai mà người Việt hay gặp hơn là 1987–1988, khi Hàn Quốc áp dụng giờ mùa hè hai năm liền, trùng dịp Seoul tổ chức Thế vận hội 1988. Theo cơ sở dữ liệu múi giờ, năm 1987 từ ngày 10 tháng 5 đến 11 tháng 10, năm 1988 từ ngày 8 tháng 5 đến 9 tháng 10. Ví dụ giả định: em bé sinh lúc 13 giờ 10 ngày 20 tháng 7 năm 1988 ở Seoul. Giờ chuẩn nơi sinh là 12 giờ 10, giờ Ngọ; nếu quên giờ mùa hè thì ra giờ Mùi. Quy về giờ Việt Nam là 10 giờ 10, giờ Tỵ.

Người sinh ở Hàn Quốc từ năm 1989 trở đi không có giờ mùa hè, chỉ cần trừ hai tiếng nếu quy về giờ Việt Nam.

Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông: giờ mùa hè đã qua

Nhật Bản. Theo cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế, Nhật áp dụng giờ mùa hè bốn năm 1948–1951, khoảng từ tháng 4 hoặc tháng 5 đến tháng 9. Người sinh ở Nhật hiện nay hầu hết sinh sau mốc này, nhưng những ai lập lá số cho ông bà, người thân lớn tuổi có gốc gác ở Nhật thì cần biết. Ví dụ giả định: sinh lúc 9 giờ ngày 10 tháng 6 năm 1950 ở Tokyo, giờ chuẩn là 8 giờ, giờ Thìn; nếu không trừ thì ra giờ Tỵ.

Đài Loan. Giờ mùa hè ở Đài Loan áp dụng nhiều năm từ 1946 đến 1961, rồi lại có năm 1974, 1975 và 1979, thường từ tháng 4 hoặc tháng 6 đến hết tháng 9. Ví dụ giả định: sinh lúc 7 giờ 30 ngày 10 tháng 6 năm 1975 ở Đài Bắc, giờ chuẩn là 6 giờ 30, giờ Mão; không trừ thì ra giờ Thìn.

Hồng Kông. Hồng Kông có giờ mùa hè gần như mỗi năm từ cuối thập niên 1940 đến 1976, rồi thêm năm 1979, với mốc khác đại lục. Người sinh ở Hồng Kông trước 1980 vào khoảng tháng 4 đến tháng 10 nên tra theo ngày.

Giấy tờ Nhật, Đài Loan ghi năm thế nào. Giấy tờ Nhật thường ghi năm theo niên hiệu: Showa kết thúc ngày 7 tháng 1 năm 1989, Heisei bắt đầu ngày 8 tháng 1 năm 1989, Reiwa bắt đầu ngày 1 tháng 5 năm 2019. Giấy tờ Đài Loan thường ghi năm Dân Quốc, cộng 1911 ra năm dương lịch. Đổi năm sai là sai cả lá số, nên làm bước này đầu tiên.

Trung Quốc: một giờ cho cả nước và giờ mùa hè 1986–1991

Trung Quốc đại lục dùng một giờ UTC+8 cho toàn quốc, dù lãnh thổ trải từ khoảng 73 đến 135 độ kinh đông. Với người sinh ở các tỉnh miền đông như Thượng Hải, Quảng Đông, Phúc Kiến, giờ đồng hồ gần với giờ mặt trời. Nhưng ở miền tây, như Tân Cương, giờ mặt trời chậm hơn đồng hồ hai đến ba tiếng. Tại Tân Cương còn có một "giờ địa phương" không chính thức chậm hơn giờ Bắc Kinh hai tiếng mà cơ sở dữ liệu múi giờ ghi nhận; người sinh ở đó cần hỏi rõ giờ trên giấy tờ là giờ nào.

Theo cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế, Trung Quốc áp dụng giờ mùa hè sáu năm 1986–1991, mỗi năm từ khoảng giữa tháng 4 đến giữa tháng 9 (năm 1986 từ ngày 4 tháng 5). Ví dụ giả định: em bé sinh lúc 17 giờ 10 ngày 1 tháng 6 năm 1988 ở Thượng Hải. Giờ chuẩn là 16 giờ 10, giờ Thân; nếu không trừ thì ra giờ Dậu. Quy về giờ Việt Nam là 15 giờ 10, cũng giờ Thân.

Người lập lá số cho người sinh ở Trung Quốc những năm này hay bị bỏ sót vì "Trung Quốc không có giờ mùa hè" là câu đúng với hiện tại. Nếu năm sinh từ 1986 đến 1991, hãy kiểm ngày.

Lịch âm nơi sinh khác lịch Việt: ví dụ Tết Đinh Hợi 2007

Lịch âm Việt Nam tính theo giờ UTC+7, lịch âm Trung Quốc và Đài Loan tính theo UTC+8. Khi thời khắc trăng mới rơi gần nửa đêm, hai lịch có thể bắt đầu tháng lệch nhau một ngày. Năm 2007 là ví dụ quen thuộc: Tết Đinh Hợi ở Việt Nam là ngày 17 tháng 2, còn ở Trung Quốc là ngày 18 tháng 2. Giả sử em bé sinh lúc 10 giờ sáng ngày 17 tháng 2 năm 2007 ở Thượng Hải (ví dụ giả định).

Cách lấy ngày âmNgày âm lịchNăm âm lịch
Theo lịch Việt (UTC+7)Mồng 1 tháng GiêngĐinh Hợi
Theo lịch âm Trung Quốc (UTC+8), như gia đình địa phương sẽ ghi30 tháng ChạpBính Tuất

Hai cách cho hai năm âm lịch khác nhau, tức là can năm, chi năm, và vì vậy rất nhiều sao an theo năm sẽ khác. Giấy tờ hay lời ghi chép của người thân địa phương sẽ theo lịch Trung Quốc; công cụ lập lá số của Việt Nam thường đổi theo lịch Việt. Nếu bạn nhập ngày âm lịch người thân ghi sẵn vào một công cụ Việt, bạn đang trộn hai hệ lịch.

Hàn Quốc cũng tính lịch âm theo múi giờ của họ, nên có những ngày âm lịch Hàn khác lịch Việt. Nhật không dùng lịch âm làm lịch chính thức, nên giấy tờ Nhật chỉ có ngày dương. Lời khuyên chung: luôn nhập ngày dương lịch cùng giờ và nơi sinh, rồi tự đổi sang âm lịch theo một hệ lịch mà bạn ghi rõ, thay vì nhập ngày âm lịch ai đó đã đổi sẵn.

Ba lỗi hay gặp với người sinh ở Đông Bắc Á

Coi chênh lệch là hằng số. Người ta nhớ "Hàn Quốc hơn Việt Nam hai tiếng", "Trung Quốc hơn một tiếng" và áp cho mọi năm. Với người sinh trong các giai đoạn giờ mùa hè hay múi giờ cũ nói ở trên, con số đó sai nửa tiếng đến một tiếng.

Nhập ngày âm lịch do người thân đổi sẵn. Người thân ở Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc đổi ngày sinh sang âm lịch theo lịch nước họ, rồi gia đình ở Việt Nam nhập con số đó vào công cụ đổi theo lịch Việt. Phần lớn ngày trong năm hai lịch trùng nhau, nên lỗi này chỉ lộ ra ở những ngày đầu tháng, và vì hiếm nên ít ai nghĩ tới.

Đọc nhầm năm niên hiệu. Năm Heisei, năm Dân Quốc nhìn như một con số nhỏ, dễ bị bỏ qua hoặc cộng nhầm. Đổi xong, thử lại bằng tuổi hiện tại của người đó: nếu tuổi tính ra không khớp với điều gia đình biết, năm đã đổi sai.

Thứ tự làm cho người sinh ở Đông Bắc Á

  1. Đổi năm trên giấy tờ về dương lịch nếu đang ghi theo niên hiệu Nhật hoặc năm Dân Quốc.
  2. Ghi giờ đúng nguyên văn, kèm thành phố nơi sinh; với Trung Quốc miền tây, hỏi rõ giờ Bắc Kinh hay giờ địa phương.
  3. Kiểm năm sinh có rơi vào giai đoạn giờ mùa hè hay múi giờ cũ không: Nhật 1948–1951; Hàn 1948–1961 và 1987–1988; Đài Loan đến 1979; Hồng Kông đến 1979; Trung Quốc 1986–1991. Nếu có, tra theo ngày.
  4. Chọn quy ước giờ (giờ chuẩn nơi sinh, giờ mặt trời, hay giờ Việt Nam), tính giờ âm lịch.
  5. Đổi ngày dương sang ngày âm theo lịch Việt, đồng thời ghi lại ngày âm theo lịch nơi sinh nếu khác, để biết vì sao gia đình gọi tuổi khác.
  6. Ghi lên lá số một dòng chú thích đầy đủ.

Người dùng AI Huyền Học hay công cụ nào khác để lập lá số nên nhập ngày dương lịch rồi đối chiếu ngày âm in trên lá số với ngày tự đổi ở bước năm. Lệch một ngày quanh đầu tháng âm thường là dấu hiệu của chuyện lịch Việt và lịch nơi sinh.

Câu hỏi thường gặp

Sinh ở Hàn Quốc năm 1988 có phải trừ giờ mùa hè không?

Nếu sinh trong khoảng ngày 8 tháng 5 đến 9 tháng 10 năm 1988 thì có, theo cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế. Năm 1987 tương tự, từ 10 tháng 5 đến 11 tháng 10. Từ năm 1989 Hàn Quốc không còn giờ mùa hè.

Sinh ở Trung Quốc có phải trừ giờ mùa hè không?

Hiện nay thì không. Nhưng Trung Quốc từng áp dụng giờ mùa hè giai đoạn 1986–1991, khoảng giữa tháng 4 đến giữa tháng 9 mỗi năm. Người sinh trong khoảng đó cần tra theo ngày cụ thể và trừ một tiếng nếu đang ở giờ mùa hè.

Người thân ở Trung Quốc ghi ngày âm lịch sẵn, có dùng được không?

Dùng được để đối chiếu, nhưng đó là lịch âm Trung Quốc tính theo UTC+8, có ngày khác lịch Việt. Tốt nhất nhập ngày dương cùng giờ và nơi sinh, tự đổi sang âm lịch theo hệ lịch mình chọn và ghi rõ trên lá số.

Năm Heisei 10 là năm nào?

Niên hiệu Heisei bắt đầu ngày 8 tháng 1 năm 1989, nên Heisei 1 là 1989 và Heisei 10 là năm 1998. Với niên hiệu Reiwa, Reiwa 1 là năm 2019 tính từ ngày 1 tháng 5. Đổi năm đúng trước rồi mới làm các bước khác.

Sinh ở Đài Loan năm 1979 có giờ mùa hè không?

Theo cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế, năm 1979 Đài Loan có giờ mùa hè từ ngày 1 tháng 7 đến hết tháng 9. Đó là lần áp dụng cuối cùng; từ năm 1980 Đài Loan không đổi giờ.

Đổi đúng lịch nơi sinh thì lá số có chính xác về vận mệnh hơn không?

Đổi đúng chỉ làm dữ liệu khớp một quy ước lịch rõ ràng. Chuyện lá số nói gì về vận mệnh thì đến nay chưa có bằng chứng; hai việc này nên được tách bạch khi bạn đọc hay giải thích lá số cho người khác.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183