Người sinh ở Tây Âu cần kiểm hai lớp trước khi đổi giờ sinh sang giờ âm lịch: lớp giờ mùa hè, vốn có quy tắc khác nhau trước và sau năm 1996, và lớp độ lệch giữa đồng hồ với mặt trời, vốn rất lớn ở những nước nằm xa về phía tây của múi giờ như Tây Ban Nha, Pháp. Lớp thứ nhất ai cũng nghe nói; lớp thứ hai chỉ quan trọng nếu bạn chọn lập lá số theo giờ mặt trời nơi sinh, nhưng khi đã chọn thì nó lớn hơn nhiều so với ở Việt Nam.
Bài này gom các nước Tây Âu có đông người Việt (Đức, Pháp, Anh, Hà Lan, Bỉ, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha), nêu mốc đổi giờ theo cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế, kèm ví dụ giả định đã tự tính. Mục đích là để dữ liệu vào lá số khớp quy ước; việc đó không làm cho phần luận giải có thêm bằng chứng nào, và bài không bàn phần luận giải.
Múi giờ các nước Tây Âu có đông người Việt
Phần lớn lục địa Tây Âu dùng chung giờ Trung Âu, trong khi Anh, Ireland, Bồ Đào Nha dùng giờ Tây Âu. Bảng dưới ghi theo những năm gần đây.
| Nước | Giờ chuẩn | Giờ mùa hè | Chênh với Việt Nam (mùa đông / mùa hè) |
|---|---|---|---|
| Đức, Pháp, Hà Lan, Bỉ, Thuỵ Sĩ, Áo, Ý, Tây Ban Nha (đất liền) | UTC+1 | UTC+2 | 6 tiếng / 5 tiếng |
| Anh, Ireland, Bồ Đào Nha (đất liền) | UTC+0 | UTC+1 | 7 tiếng / 6 tiếng |
| Quần đảo Canary (Tây Ban Nha) | UTC+0 | UTC+1 | 7 tiếng / 6 tiếng |
| Phần Lan, Hy Lạp, các nước Baltic | UTC+2 | UTC+3 | 5 tiếng / 4 tiếng |
Mức chênh năm đến bảy tiếng với Việt Nam nghĩa là những ca sinh buổi chiều tối ở châu Âu khi quy về giờ Việt Nam thường sang ngày hôm sau. Sinh lúc 20 giờ ở Paris mùa đông là 2 giờ sáng hôm sau ở Việt Nam. Vì vậy với người sinh ở châu Âu, câu "theo giờ nơi sinh hay giờ Việt Nam" quyết định luôn cả ngày âm lịch chứ không chỉ giờ.
Quần đảo Canary là ca hay bị bỏ qua: thuộc Tây Ban Nha nhưng dùng giờ như Anh, chậm hơn Madrid một tiếng.
Quy tắc giờ mùa hè trước và sau năm 1996
Theo cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế, từ năm 1996 Liên minh châu Âu thống nhất: giờ mùa hè bắt đầu Chủ nhật cuối cùng của tháng Ba và kết thúc Chủ nhật cuối cùng của tháng Mười, các nước chuyển cùng một thời khắc (1 giờ sáng giờ quốc tế). Trước 1996, phần lớn lục địa kết thúc giờ mùa hè vào Chủ nhật cuối tháng Chín, còn Anh kết thúc muộn hơn, vào tháng Mười.
| Giai đoạn | Lục địa (Đức, Pháp, Hà Lan…) | Anh |
|---|---|---|
| Trước khi áp dụng | Đức không đổi giờ suốt 1950–1979; Pháp bắt đầu từ 1976; Tây Ban Nha từ 1974; Hà Lan từ 1977 | Có giờ mùa hè từ lâu, có giai đoạn quy tắc đặc biệt |
| Khoảng 1981–1995 | Cuối tháng Ba đến cuối tháng Chín | Cuối tháng Ba đến khoảng cuối tháng Mười |
| Từ 1996 | Cuối tháng Ba đến cuối tháng Mười | Cuối tháng Ba đến cuối tháng Mười |
Hệ quả cụ thể: người sinh ở Đức hay Pháp vào tháng Mười trước năm 1996 thì không có giờ mùa hè, nhưng người sinh cùng ngày từ năm 1996 trở đi thì có. Bảng hướng dẫn viết theo luật hiện hành sẽ trừ oan một tiếng cho người sinh tháng Mười những năm 1980, 1990. Còn người sinh ở Anh tháng Mười thời đó thì có giờ mùa hè, trong khi bên kia eo biển thì không.
Đông và Tây nước Đức đều bắt đầu giờ mùa hè từ năm 1980 theo cơ sở dữ liệu múi giờ (khu vực Berlin). Gia đình có con sinh ở Đông Đức đầu thập niên 1980 nên đối chiếu thêm giấy tờ gốc nếu ngày sinh gần mốc chuyển giờ.
Ví dụ giả định: Berlin và London cùng ngày 10 tháng 10 năm 1990
Hai em bé sinh lúc 9 giờ 20 sáng ngày 10 tháng 10 năm 1990, một em ở Berlin, một em ở London (ví dụ giả định). Năm 1990, Đức đã kết thúc giờ mùa hè từ ngày 30 tháng 9, nên đồng hồ Berlin lúc đó là giờ chuẩn UTC+1; 9 giờ 20 thuộc giờ Tỵ. Anh năm đó vẫn đang ở giờ mùa hè UTC+1, giờ chuẩn của London là 8 giờ 20, thuộc giờ Thìn.
Điều thú vị là hai đồng hồ khi ấy chỉ cùng một thời khắc, vì cả hai đều đang ở UTC+1. Quy về giờ Việt Nam, cả hai em đều sinh lúc 15 giờ 20, giờ Thân, ngày 22 tháng Tám âm lịch năm Canh Ngọ. Như vậy cùng một khoảnh khắc mà có ba kết quả giờ âm lịch: Tỵ (giờ chuẩn Berlin), Thìn (giờ chuẩn London), Thân (giờ Việt Nam). Chọn quy ước nào là chọn kết quả nào.
Nếu người lập lá số cho em ở Berlin dùng bảng giờ mùa hè hiện hành, thấy tháng Mười nằm trong khoảng "cuối tháng Ba đến cuối tháng Mười", họ sẽ trừ một tiếng ra 8 giờ 20, giờ Thìn. Đó là lỗi do áp luật năm 1996 cho một ca năm 1990. Cùng ngày tháng đó mà sinh năm 1998 thì Berlin đúng là đang ở giờ mùa hè và phải trừ.
Tây Ban Nha, Pháp: đồng hồ chạy trước mặt trời
Giờ Trung Âu UTC+1 được đặt theo kinh tuyến 15 độ đông, đi qua miền đông nước Đức. Madrid nằm khoảng 3,7 độ kinh tây, tức là cách kinh tuyến chuẩn gần 19 độ; mỗi độ kinh ứng với bốn phút, nên mặt trời ở Madrid "đến" muộn hơn đồng hồ khoảng một tiếng mười lăm phút vào mùa đông, và khoảng hai tiếng mười lăm phút vào mùa hè. Paris ở khoảng 2,35 độ kinh đông, chênh ít hơn nhưng vẫn gần năm mươi phút vào mùa đông. Berlin, ngược lại, gần kinh tuyến chuẩn, chênh chỉ vài phút.
Ví dụ giả định: em bé sinh lúc 14 giờ ngày 10 tháng 7 năm 2015 ở Madrid. Bỏ giờ mùa hè, giờ chuẩn nơi sinh là 13 giờ, thuộc giờ Mùi. Tính theo giờ mặt trời trung bình ở Madrid thì chỉ khoảng 11 giờ 45, và nếu cộng thêm độ lệch của mặt trời thật trong tháng Bảy (vài phút) thì vào khoảng 11 giờ 40, thuộc giờ Ngọ. Quy về giờ Việt Nam thì là 19 giờ, giờ Tuất. Ba cách cho ba giờ khác nhau, và hai cách đầu đều có thể gọi là "giờ địa phương".
Vì vậy khi ai đó nói "lập theo giờ nơi sinh", hãy hỏi rõ là giờ chuẩn của múi giờ nơi sinh hay giờ mặt trời tại kinh độ nơi sinh. Ở Việt Nam hai thứ này gần nhau nên ít người phân biệt; ở Tây Ban Nha, Pháp, chúng cách nhau cả tiếng. Ghi rõ lựa chọn trên lá số là cách duy nhất để người khác đối chiếu được.
Giấy tờ châu Âu: tìm giờ sinh ở đâu
Mỗi nước giữ giờ sinh ở chỗ khác nhau, và không phải bản trích lục nào cũng ghi giờ. Một số gợi ý để tìm, ghi theo hiểu biết phổ thông; quy định có thể thay đổi, nên hỏi cơ quan hộ tịch hoặc bệnh viện nơi sinh nếu không thấy.
- Đức: giấy khai sinh thường có ô giờ sinh, ghi theo dạng 24 giờ. Sổ theo dõi sức khoẻ trẻ em do bệnh viện phát cũng thường ghi giờ.
- Pháp: bản trích lục khai sinh đầy đủ thường có giờ sinh, viết theo dạng 24 giờ, đôi khi bằng chữ. Bản trích lục rút gọn có thể không có.
- Anh (England và Wales): giấy khai sinh thông thường không ghi giờ, trừ ca sinh đôi hoặc sinh nhiều; giờ thường chỉ có trong hồ sơ của bệnh viện hoặc sổ của nữ hộ sinh. Scotland thì có ghi giờ.
- Hà Lan, Bỉ: thường có giờ trong hồ sơ hộ tịch; hỏi cơ quan hộ tịch của thành phố nơi sinh nếu bản đang giữ không có.
- Mọi nước: ngày viết theo thứ tự ngày trước, tháng sau (khác nước Mỹ), nên 03.04 là mồng 3 tháng 4.
Nếu chỉ có giờ do cha mẹ nhớ lại, hãy ghi rõ là "giờ theo lời kể", kèm độ tin cậy. Một giờ ghi theo lời kể mà sát ranh hai giờ âm lịch thì nên lập cả hai lá số, thay vì chọn một và quên mất là mình đã chọn.
Năm lỗi hay gặp với gia đình có con sinh ở châu Âu
Đọc ngày kiểu Mỹ. Người quen giao diện điện thoại cài đặt kiểu Mỹ đọc 05.06 thành tháng Năm ngày 6, trong khi giấy tờ châu Âu viết ngày trước tháng sau, tức là mồng 5 tháng 6. Sai một tháng dương lịch là sai gần như mọi thứ trên lá số.
Áp luật năm 1996 cho người sinh trước 1996. Đây là lỗi phổ biến nhất với tháng Mười, như ví dụ Berlin ở trên. Luật hiện hành dễ tìm, luật cũ thì phải tra, nên người ta hay dùng nhầm cái dễ tìm.
Coi Anh như lục địa. Anh chậm hơn Pháp, Đức một tiếng quanh năm. Người có anh chị em sinh ở hai nước khác nhau đặc biệt dễ nhầm khi lập lá số cho cả nhà một lúc.
Gộp giờ mặt trời với giờ chuẩn. Có người trừ giờ mùa hè, rồi lại trừ thêm độ lệch kinh độ, nhưng khi so với một lá số khác thì quên mất mình đã trừ lớp thứ hai. Mỗi lớp điều chỉnh nên ghi riêng một dòng.
Tính nhẩm phần chênh với Việt Nam theo mùa ở Việt Nam. Việt Nam không có giờ mùa hè, nên chênh lệch thay đổi theo mùa ở châu Âu chứ không theo mùa ở Việt Nam: mùa đông châu Âu chênh sáu tiếng (với giờ Trung Âu), mùa hè chênh năm tiếng.
Thứ tự kiểm cho người sinh ở Tây Âu
- Ghi ngày giờ đúng nguyên văn giấy tờ, kèm thành phố nơi sinh; đọc ngày theo thứ tự ngày trước, tháng sau.
- Xác định múi giờ chuẩn của nơi sinh theo bảng trên; cẩn thận với Canary, Bồ Đào Nha, Anh.
- Tra xem ngày đó nơi sinh có đang ở giờ mùa hè không, theo đúng năm sinh: trước 1996 lục địa kết thúc cuối tháng Chín; từ 1996 cuối tháng Mười; Đức không đổi giờ trước 1980.
- Trừ giờ mùa hè nếu có, ra giờ chuẩn nơi sinh.
- Nếu chọn giờ mặt trời, tính thêm độ lệch kinh độ (bốn phút mỗi độ so với kinh tuyến 15 độ đông với giờ Trung Âu, kinh tuyến 0 với giờ Tây Âu).
- Nếu chọn giờ Việt Nam, cộng phần chênh múi giờ và xem ngày dương lịch có sang ngày mới không.
- Ghi lên lá số một dòng: nơi sinh, giờ gốc, giờ đã quy đổi, quy ước đã dùng.
Với người lập lá số trên AI Huyền Học hay bất kỳ công cụ nào khác, sau khi lập hãy so giờ âm lịch và ngày âm lịch in ở đầu lá số với dòng ghi chú của bạn. Khớp thì công cụ đang làm theo quy ước bạn chọn; không khớp thì nhập giờ đã quy đổi thay vì giờ gốc.
Câu hỏi thường gặp
Sinh ở Đức tháng Mười năm 1992 có phải trừ giờ mùa hè không?
Phải tra theo ngày. Trước năm 1996, giờ mùa hè ở Đức kết thúc Chủ nhật cuối tháng Chín, nên phần lớn tháng Mười năm 1992 là giờ chuẩn, không trừ. Từ năm 1996, giờ mùa hè kéo tới Chủ nhật cuối tháng Mười.
Sinh ở Anh có giống sinh ở Pháp không?
Không. Anh ở UTC+0, Pháp ở UTC+1, chênh nhau một tiếng quanh năm. Trước năm 1996, Anh còn kết thúc giờ mùa hè muộn hơn lục địa vài tuần, nên tháng Mười có thể là giờ mùa hè ở Anh mà là giờ chuẩn ở Pháp.
Giờ mặt trời ở Madrid lệch đồng hồ bao nhiêu?
Madrid nằm khoảng 3,7 độ kinh tây nhưng dùng giờ Trung Âu đặt theo kinh tuyến 15 độ đông, nên mặt trời trung bình chậm hơn đồng hồ khoảng một tiếng mười lăm phút vào mùa đông, khoảng hai tiếng mười lăm phút vào mùa hè.
Giấy khai sinh Anh không có giờ sinh thì làm sao?
Ở England và Wales, giấy khai sinh thông thường không ghi giờ trừ ca sinh nhiều. Bạn có thể hỏi hồ sơ của bệnh viện, sổ của nữ hộ sinh, hoặc lời kể của cha mẹ, rồi ghi rõ nguồn và độ tin cậy lên lá số.
Nên lập lá số theo giờ chuẩn hay giờ mặt trời nơi sinh?
Đây là lựa chọn quy ước, các người làm tử vi không thống nhất. Giờ chuẩn đơn giản và dễ kiểm; giờ mặt trời gần với ý nghĩa ban đầu của giờ âm lịch hơn. Chọn cách nào cũng được, miễn ghi rõ và dùng nhất quán.
Lá số đã quy đổi đúng múi giờ châu Âu có đoán đúng hơn không?
Quy đổi đúng chỉ bảo đảm lá số khớp quy ước bạn chọn, như một phép tính không sai. Còn chuyện lá số có đoán trước được đời người hay không thì chưa có bằng chứng ủng hộ; nên tách hai việc này khi đọc lá số.