Trong sách đẩu số chữ Hán, nhiều quy tắc an sao không được trình bày thành bảng như sách tiếng Việt ngày nay, mà được nén trong những câu vè ngắn gọi là ca quyết: mỗi câu vài chữ, gom các can hoặc chi thành nhóm và chỉ ra cung đặt sao. Câu quyết dễ thuộc, dễ truyền miệng, nhưng cũng là chỗ dễ hiểu sai nhất khi chuyển sang bảng.
Bài này hướng dẫn đọc một câu ca quyết như đọc một hàm số: tách nhóm đầu vào, tách kết quả, dựng bảng, rồi kiểm bảng bằng các quy luật đều đặn. Ví dụ dùng hai quy tắc quen thuộc là Lộc Tồn và Khôi Việt theo can năm. Bài không giải nghĩa sao và không trích nguyên văn dài; khi cần câu gốc, hãy mở bản sách có in kèm chữ Hán để tự đối chiếu.
Ca quyết là gì và vì sao sách cổ dùng nó
Ca quyết là lối ghi nhớ có vần, phổ biến trong nhiều môn học cổ của chữ Hán, từ y học, toán pháp đến lịch pháp. Với tử vi, một câu quyết thường có dạng "nhóm can nào thì sao ở cung nào", viết gọn tới mức bỏ hết từ nối. Người học xưa thuộc lòng các câu này rồi bấm đốt ngón tay để an sao, không cần mở bảng.
Vì nén chặt, câu quyết hay dùng hình ảnh thay cho tên cung. Thay vì viết "cung Sửu, cung Mùi", câu quyết có khi chỉ gọi "trâu, dê"; thay vì "Tý, Thân" thì nói "chuột, khỉ". Người đọc phải đổi hình ảnh về địa chi trước khi đặt vào bảng. Chính bước đổi này là chỗ người dịch hay nhầm, vì cùng một con vật có khi được gọi bằng nhiều chữ khác nhau, và có chữ trông gần giống tên một can hoặc một chi khác.
Một điểm nữa: câu quyết thường không nói chiều đi, điểm khởi, hay ngoại lệ. Những thứ đó nằm trong lời giải đi kèm hoặc trong thói quen của thầy truyền. Sách tiếng Việt thế kỷ XX khi chuyển câu quyết thành bảng đã phải điền vào các khoảng trống này, và mỗi người biên soạn có thể điền một kiểu. Hiểu điều đó giúp bạn bớt ngạc nhiên khi hai bảng in đều "dựa theo sách cổ" mà vẫn khác nhau.
Bốn bước giải một câu quyết thành bảng
Áp dụng cho bất kỳ câu quyết nào có dạng nhóm đầu vào và cung kết quả.
- Tách nhóm đầu vào. Gạch dưới các can (hoặc chi) xuất hiện trong câu. Đếm lại xem đủ mười can hay mười hai chi chưa. Thiếu một can là dấu hiệu câu đó có phần tiếp theo, hoặc bạn đang cầm một bản chép thiếu.
- Đổi hình ảnh về địa chi. Lập một danh sách đối chiếu con vật với chi: chuột là Tý, trâu là Sửu, hổ là Dần, thỏ hoặc mèo là Mão, rồng là Thìn, rắn là Tỵ, ngựa là Ngọ, dê là Mùi, khỉ là Thân, gà là Dậu, chó là Tuất, lợn là Hợi. Người Việt gọi Mão là mèo, sách chữ Hán gọi là thỏ; nhớ cả hai.
- Điền bảng. Mỗi can một hàng, mỗi sao một cột. Ghi đúng thứ tự câu quyết nêu: với cặp sao như Khôi Việt, chi nêu trước thường là của Khôi, chi nêu sau là của Việt, nhưng hãy kiểm lại bằng lời giải của chính sách đó.
- Kiểm bằng quy luật. Mỗi quy tắc có vài tính chất mà bảng đúng phải thoả. Kiểm các tính chất đó trước khi dùng bảng (xem mục phép thử bên dưới).
Làm xong bốn bước, bạn có một bảng do chính mình dựng, biết rõ từng ô đến từ đâu. Bảng này dùng để đối chiếu mọi bảng in hay bảng trên mạng mà bạn gặp sau đó.
Ví dụ: dựng bảng Lộc Tồn và Khôi Việt theo can năm
Bảng dưới dựng theo cách xếp lưu hành rộng trong sách tiếng Việt. Cột cuối ghi chỗ có dị bản đã biết; các ô khác các bản phổ biến ghi giống nhau.
| Can năm | Lộc Tồn | Thiên Khôi | Thiên Việt | Ghi chú dị bản |
|---|---|---|---|---|
| Giáp | Dần | Sửu | Mùi | Không |
| Ất | Mão | Tý | Thân | Không |
| Bính | Tỵ | Hợi | Dậu | Không |
| Đinh | Ngọ | Hợi | Dậu | Không |
| Mậu | Tỵ | Sửu | Mùi | Không |
| Kỷ | Ngọ | Tý | Thân | Không |
| Canh | Thân | Sửu | Mùi | Có bản xếp Canh cùng Tân: Khôi Ngọ, Việt Dần |
| Tân | Dậu | Ngọ | Dần | Không |
| Nhâm | Hợi | Mão | Tỵ | Không |
| Quý | Tý | Mão | Tỵ | Không |
Đọc bảng theo nhóm sẽ thấy cấu trúc của câu quyết: Giáp, Mậu, Canh cùng nhóm trâu – dê; Ất, Kỷ cùng nhóm chuột – khỉ; Bính, Đinh cùng nhóm lợn – gà; Nhâm, Quý cùng nhóm thỏ – rắn; Tân riêng nhóm ngựa – hổ. Dị bản ở can Canh chính là chuyện Canh được đặt ở nhóm đầu hay nhóm cuối.
Phép thử để biết bảng dựng từ câu quyết có đúng không
Đếm đủ đầu vào. Mười can đều phải có mặt đúng một lần. Bảng nào để trống một can, hoặc một can xuất hiện hai lần với hai kết quả, là bảng chép hỏng.
Lộc Tồn không rơi vào tứ mộ. Theo quy tắc lưu hành, Lộc Tồn chỉ nằm ở tám cung Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi, Tý. Thấy Lộc Tồn ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là sai so với mọi bản phổ biến.
Kình Đà ôm Lộc Tồn. Kình Dương ở cung kế tiếp Lộc Tồn theo chiều thuận, Đà La ở cung liền trước theo chiều đó. Bảng ghi Kình Đà xa Lộc Tồn hơn một cung là chép lệch.
Khôi Việt không đứng cùng cung. Trong mọi hàng, Khôi và Việt ở hai cung khác nhau. Hai sao trùng cung là dấu hiệu chép dồn cột.
Cặp can cùng nhóm cho cùng kết quả. Nếu câu quyết gom hai can vào một nhóm, hai hàng tương ứng phải giống nhau hoàn toàn. Lệch nhau một ô là lỗi, không phải dị bản, trừ khi bạn tìm được sách ghi rõ cách xếp khác.
Khi câu quyết có dị bản: ghi lại, đừng chọn bừa
Trường hợp can Canh của Khôi Việt là ví dụ điển hình cho dị bản ngay ở tầng ca quyết. Một cách đọc đặt Canh chung nhóm với Giáp và Mậu, cách kia đặt Canh chung với Tân. Cả hai đều có sách chép, và đều có người theo. Không có căn cứ thực nghiệm nào để nói cách nào "linh" hơn, nên việc của người lập lá số là ghi rõ mình theo cách nào.
Cách ghi gọn nhất là một dòng chú thích ở góc lá số: "Khôi Việt can Canh: Sửu – Mùi" hoặc "Khôi Việt can Canh: Ngọ – Dần". Với người sinh năm can Canh, dòng này giúp người đọc lá số sau biết ngay hai sao đang nằm theo bản nào. Với người sinh các can khác, dị bản không ảnh hưởng, và dòng chú thích có thể bỏ.
Cũng nên phân biệt dị bản thật với "dị bản giả" sinh ra do đọc sai câu quyết. Ví dụ, nếu ai đó đổi Mão thành Tỵ ở can Nhâm vì nhầm thứ tự hai con vật, kết quả là Khôi và Việt đổi chỗ cho nhau. Kiểu này không có sách nào ghi, chỉ là lỗi đọc; thấy thì sửa, không cần ghi như dị bản.
Từ câu quyết đến lá số: làm chủ quy tắc thay vì thuộc bảng
Người học lập lá số thường thuộc bảng trước, rồi mới biết đến câu quyết. Đi ngược lại có lợi hơn: hiểu cấu trúc nhóm của câu quyết thì không cần thuộc cả bảng mười hàng, và nhìn bảng in nào cũng thấy ngay ô nào phá cấu trúc. Đó là kỹ năng kiểm, không phải kỹ năng đoán.
Bạn có thể áp dụng cùng cách làm cho các quy tắc khác có câu quyết, như Tứ Hoá theo can, Hoả Tinh và Linh Tinh theo nhóm chi năm, Thiên Mã theo tam hợp chi năm. Với mỗi quy tắc, dựng bảng của riêng mình, ghi các tính chất kiểm được, ghi dị bản đã biết. Dần dần bạn có một cuốn sổ quy tắc có nguồn, dùng được lâu dài.
Một lời nhắc cuối: thuộc câu quyết và dựng đúng bảng giúp lá số của bạn nhất quán và kiểm lại được. Điều đó khác với việc lá số nói đúng chuyện đời. Hai chuyện này nên được giữ tách biệt, kể cả khi bạn đọc những câu quyết nghe rất chắc chắn trong sách cổ.
Lỗi hay gặp khi chuyển câu quyết thành bảng
Những lỗi dưới đây gặp nhiều trong bảng chép tay và bảng lan truyền. Phần lớn đều phát hiện được bằng các phép thử ở mục trên, nếu bạn chịu bỏ ra vài phút.
- Đổi chỗ hai sao trong một cặp. Câu quyết nêu cặp cung theo thứ tự cố định; người chép nhớ ngược thứ tự thì Khôi thành Việt và Việt thành Khôi ở cả mười hàng. Bảng vẫn trông đều đặn nên rất khó nhận ra nếu không so với lời giải gốc.
- Nhầm con vật thành chi khác. Mèo và thỏ cùng là Mão; người không biết điều này có khi đi tìm một "cung mèo" không tồn tại trong bản chữ Hán, hoặc nghi bảng sai trong khi bảng đúng.
- Gán nhóm can sai do ngắt câu sai. Câu quyết không có dấu câu trong bản khắc cũ; ngắt sai một chỗ là một can bị kéo sang nhóm bên cạnh. Đây cũng là một nguồn sinh ra những "dị bản" không có thật.
- Lấy câu quyết theo chi năm áp cho can năm. Có quy tắc tính theo can, có quy tắc tính theo chi, có quy tắc tính theo tháng hay giờ. Dùng nhầm loại đầu vào thì bảng đúng mà kết quả vẫn sai.
- Bỏ qua chiều đi. Với những sao an bằng cách đếm từ một cung khởi, câu quyết thường chỉ nói điểm khởi. Chiều thuận hay nghịch, có phụ thuộc âm dương nam nữ hay không, nằm trong lời giải. Bỏ lời giải là dễ sai cả nửa số lá số.
Gặp một trong năm lỗi trên thì sửa bảng của mình, ghi lại lỗi đã gặp vào sổ, và nếu bảng đến từ người khác thì báo lại cho họ một cách nhẹ nhàng kèm nguồn đối chiếu. Một bảng được sửa công khai sẽ có ích cho nhiều người học sau.
Câu hỏi thường gặp
Ca quyết an sao có giống phú tử vi không?
Không. Phú là thể văn dùng để luận ý nghĩa tổ hợp sao, còn ca quyết an sao chỉ là câu ghi nhớ quy tắc đặt sao vào cung. Ca quyết thuộc phần kỹ thuật lập lá số, phú thuộc phần đọc và luận.
Tại sao câu quyết gọi cung bằng tên con vật?
Vì mười hai địa chi gắn với mười hai con giáp, và gọi bằng con vật giúp câu vè có vần, dễ nhớ. Khi dựng bảng bạn chỉ cần đổi con vật về chi tương ứng, nhớ rằng Mão được người Việt gọi là mèo còn sách chữ Hán gọi là thỏ.
Khôi Việt can Canh nên theo bản nào?
Hai cách xếp đều có sách ghi. Chưa có căn cứ để xếp hạng, nên nên chọn một cách, ghi rõ trên lá số, và giữ nhất quán. Nếu đọc lá số do người khác lập, hãy hỏi họ theo cách nào trước khi so.
Có cần thuộc lòng câu quyết bằng chữ Hán không?
Không cần. Điều quan trọng là hiểu cấu trúc nhóm đầu vào và kết quả. Bạn có thể ghi câu quyết bằng tiếng Việt theo dạng nhóm can và cặp cung, miễn là đối chiếu được với một bản có nguyên văn khi cần.
Dựng bảng từ câu quyết có thay được việc kiểm sách in không?
Không thay được mà bổ sung cho nhau. Bảng tự dựng là thước đo để phát hiện ô in sai, còn sách in và lời giải giúp bạn biết các ngoại lệ, chiều đi và điểm khởi mà câu quyết không nói ra.
Lá số dựng đúng mọi câu quyết thì có đoán đúng không?
Lá số đúng quy tắc chỉ có nghĩa là các ô được tính nhất quán. Việc tử vi đoán đúng đời người là chuyện khác, đến nay chưa có bằng chứng thực nghiệm vững, nên nên tách hai việc này khi đọc.