Người sinh ở miền Nam trước năm 1975 nên biết rằng âm lịch dùng ở đó lúc ấy, theo các tài liệu lịch pháp thường dẫn, được tính theo UTC+8, giống lịch Trung Quốc; còn miền Bắc chuyển sang tính theo UTC+7 từ năm 1968. Phần lớn các tháng, hai cách tính cho cùng một kết quả. Nhưng có một số tháng lệch nhau một ngày, và nếu tháng đó là tháng Giêng thì lệch cả ngày Tết. Dấu vết dễ nhớ nhất là Tết Mậu Thân 1968: miền Bắc đón Tết ngày 29/01/1968, miền Nam ngày 30/01/1968.
Công cụ đổi lịch hiện nay thường áp một múi giờ cho mọi năm. Với người sinh trong những tháng bị lệch, kết quả có thể khác với ngày âm lịch mà gia đình ghi lại từ thời đó. Bài này liệt kê các tháng lệch trong giai đoạn 1955 – 1975 đã được tính lại bằng hai múi giờ, chỉ ra ô nào trên lá số bị ảnh hưởng và cách ghi quy ước. Lập lá số đúng dữ liệu là việc kiểm được; còn lá số nói đúng hay không về đời người lại là câu hỏi khác.
Hai miền, hai cách tính lịch trong cùng một giai đoạn
Âm lịch không phải bảng in sẵn từ thời cổ; mỗi năm nó được tính ra từ thời điểm điểm sóc (trăng mới) và các trung khí. Một điểm sóc xảy ra lúc 23 giờ 30 phút theo giờ UTC+7 vẫn thuộc ngày hôm đó; cũng thời điểm ấy, theo giờ UTC+8 đã là 0 giờ 30 phút ngày hôm sau. Tháng âm bắt đầu vào ngày có điểm sóc, nên một giờ chênh lệch có thể dời ngày mùng Một đi một ngày.
Các tài liệu về lịch Việt Nam thường ghi rằng từ năm 1968 miền Bắc chính thức tính âm lịch theo kinh tuyến 105 độ Đông, tức UTC+7, còn miền Nam tiếp tục dùng lịch tính theo UTC+8 cho tới năm 1975, sau đó cả nước dùng chung lịch UTC+7. Chi tiết về văn bản, ngày ban hành nằm ngoài phạm vi bài này; điều chắc chắn và dễ kiểm là Tết Mậu Thân hai miền đón lệch nhau một ngày, đúng như phép tính theo hai múi giờ cho ra.
Hệ quả cho người lập lá số: cùng một ngày dương lịch, đổi bằng công cụ dùng UTC+7 có thể ra ngày âm khác với ngày âm mà một gia đình ở Sài Gòn năm 1969 đã ghi vào sổ. Không bên nào "tính sai"; chúng chỉ dùng hai múi giờ khác nhau. Câu hỏi là bạn muốn lá số theo lịch nào, và bạn cần biết điều đó trước khi so hai tờ lá số với nhau.
Các tháng lệch một ngày trong giai đoạn 1955 – 1975
Bảng dưới liệt kê các tháng âm lịch mà ngày mùng Một theo UTC+7 sớm hơn UTC+8 một ngày, trong khoảng 1955 – 1975. Mỗi dòng đã được tính lại từ thời điểm điểm sóc. Trong tháng đó, ngày mùng Một theo UTC+7 là ngày cuối tháng trước theo UTC+8, và từ ngày thứ hai trở đi, số ngày âm theo UTC+7 lớn hơn số ngày theo UTC+8 đúng một đơn vị.
| Tháng âm lịch | Mùng Một theo UTC+7 | Mùng Một theo UTC+8 | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Tháng Mười năm Bính Thân | 02/11/1956 | 03/11/1956 | Lệch ngày |
| Tháng Hai năm Đinh Dậu | 01/03/1957 | 02/03/1957 | Lệch ngày |
| Tháng Mười năm Đinh Dậu | 21/11/1957 | 22/11/1957 | Lệch ngày |
| Tháng Chín năm Giáp Thìn | 05/10/1964 | 06/10/1964 | Lệch ngày |
| Tháng Giêng năm Ất Tỵ | 01/02/1965 | 02/02/1965 | Lệch cả ngày Tết |
| Tháng Mười Một năm Đinh Mùi | 01/12/1967 | 02/12/1967 | Lệch ngày |
| Tháng Giêng năm Mậu Thân | 29/01/1968 | 30/01/1968 | Tết Mậu Thân |
| Tháng Giêng năm Kỷ Dậu | 16/02/1969 | 17/02/1969 | Lệch cả ngày Tết |
| Tháng Mười Một năm Giáp Dần | 13/12/1974 | 14/12/1974 | Lệch ngày |
| Tháng Ba năm Ất Mão | 11/04/1975 | 12/04/1975 | Tháng vắt qua 30/4/1975 |
Bảng bỏ ra một vài tháng mà điểm sóc rơi chỉ cách mốc nửa đêm vài phút, vì ở biên độ đó sai số của các công thức gần đúng có thể đổi kết quả. Nếu ngày sinh của bạn rơi vào giữa tháng 5/1961 hoặc đầu tháng 6/1961, hãy đối chiếu thêm bằng ít nhất hai nguồn độc lập.
Với người sinh ở miền Bắc trước năm 1968, các tài liệu lịch pháp cũng cho rằng lịch dùng lúc đó tính theo UTC+8. Nghĩa là các dòng 1956 – 1967 trong bảng cũng cần cân nhắc cho người sinh ở miền Bắc trong giai đoạn ấy.
Một ngày lệch kéo theo những gì trên lá số
Ngày sinh âm lịch lệch một. Đây là ảnh hưởng chắc chắn nhất. Sao Tử Vi được an theo ngũ hành cục và ngày sinh âm lịch; đổi ngày, Tử Vi có thể dời một hoặc vài cung tuỳ cục, và cả chòm Tử Vi, chòm Thiên Phủ dời theo. Các sao an theo ngày như Tam Thai, Bát Tọa, Ân Quang, Thiên Quý cũng dời.
Ngày đầu tháng có thể đổi cả tháng. Người sinh đúng ngày mùng Một theo UTC+7 thì theo UTC+8 lại là ngày cuối của tháng trước. Tháng đổi kéo theo cung Mệnh, cung Thân và nhóm sao an theo tháng.
Ngày Tết có thể đổi cả năm. Ba dòng tháng Giêng trong bảng (1965, 1968, 1969) là ca nặng nhất. Ví dụ giả định: một người sinh ngày 29/01/1968 ở Sài Gòn. Theo UTC+7 đó là mùng Một Tết Mậu Thân; theo UTC+8 đó là ngày 30 tháng Chạp năm Đinh Mùi. Hai lá số khác năm, khác can chi, khác chiều đại vận.
Giờ sinh không đổi. Đổi lịch theo múi giờ chỉ ảnh hưởng ngày và tháng âm. Giờ sinh trên giấy tờ vẫn là giờ địa phương lúc đó; còn chuyện giờ đồng hồ ở miền Nam trước 1975 đặt theo múi giờ nào là một câu hỏi riêng, thuộc chuyên mục giờ sinh, cần kiểm bằng cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế (tz) và giấy tờ gốc.
Năm can chi không đổi ở các tháng khác. Ngoài ba tháng Giêng kể trên, các dòng còn lại chỉ đổi ngày (và tháng nếu sinh đúng mùng Một). Không có lý do gì để sửa năm can chi của người sinh tháng Mười năm Bính Thân chỉ vì múi giờ.
Quy trình đổi lịch cho người sinh trước 1975
Các bước dưới đây giúp bạn quyết định và ghi lại một cách nhất quán, nhất là khi trong nhà có nhiều người sinh ở hai miền.
- Xác định nơi sinh và năm sinh. Sinh ở miền Nam trước 1975, hoặc ở miền Bắc trước 1968, thì đánh dấu là "giai đoạn lịch UTC+8".
- Đối chiếu ngày dương lịch với bảng ở trên. Nếu không nằm trong tháng nào của bảng, hai cách tính cho cùng kết quả và bạn không cần làm gì thêm.
- Nếu nằm trong một tháng của bảng, tìm xem gia đình có ghi ngày âm lịch từ thời đó không: sổ tay, gia phả, giấy ghi của cha mẹ. Ngày âm ghi lúc ấy thường theo lịch đang dùng tại nơi sinh.
- So ngày âm gia đình ghi với hai kết quả đổi (UTC+7 và UTC+8). Khớp với bên nào thì đó là lịch gia đình đã dùng. Nếu không khớp bên nào, có thể ngày dương hoặc ngày âm đã ghi nhầm; hãy kiểm lại giấy tờ trước khi chọn.
- Chọn một lịch cho lá số và ghi rõ ở góc: "đổi theo lịch UTC+8 (lịch đang dùng tại nơi sinh)" hoặc "đổi theo lịch UTC+7 hiện hành".
- Nếu dùng công cụ trên mạng, thử nó bằng ngày 29/01/1968 để biết nó áp múi giờ nào cho năm cũ. Ra mùng Một Tết Mậu Thân là công cụ áp UTC+7; ra 30 tháng Chạp Đinh Mùi là công cụ áp UTC+8.
Các bước này không đòi bạn chọn bên nào là "đúng". Chúng chỉ bảo đảm rằng lá số có dữ liệu rõ nguồn gốc, và người đọc sau này biết mình đang nhìn bản theo lịch nào.
Ngày âm trong ký ức gia đình là manh mối quý
Với người sinh trước 1975, ngày âm lịch mà ông bà, cha mẹ nhớ hoặc ghi lại thường đáng tin hơn bất kỳ phép đổi nào làm lại sau năm mươi năm, vì nó được ghi theo đúng tờ lịch treo trong nhà lúc đứa trẻ ra đời. Nhiều gia đình miền Nam vẫn giữ thói quen làm giỗ, làm sinh nhật theo ngày âm lịch, nên ngày âm ấy được nhắc lại mỗi năm và ít bị quên.
Tuy vậy, ký ức cũng có giới hạn. Có người nhớ ngày âm nhưng nhầm tháng, có người nhớ "sinh sau Tết vài ngày" mà không nhớ ngày cụ thể. Khi ngày âm gia đình nhớ không khớp với cả hai cách đổi, đừng vội kết luận lịch nào sai; khả năng cao hơn là một trong hai con số ghi nhầm. Hãy tìm thêm một nguồn thứ ba như giấy khai sinh gốc, sổ hộ khẩu cũ, giấy rửa tội hay sổ ghi chép của bà đỡ nếu còn.
Một mẹo kiểm nhanh là dùng can chi ngày. Can chi ngày chạy liên tục theo vòng sáu mươi, không phụ thuộc múi giờ hay lịch nào. Nếu sổ gia đình ghi "ngày Kỷ Hợi", bạn có thể kiểm xem ngày dương lịch trên giấy tờ có đúng là ngày Kỷ Hợi không. Ví dụ, ngày 30/01/1968 là ngày Kỷ Hợi, ngày 29/01/1968 là ngày Mậu Tuất. Can chi ngày khớp thì ngày dương gần như chắc chắn đúng, và bạn chỉ còn phải chọn lịch cho phần ngày tháng âm.
Những nhầm lẫn thường gặp với lịch trước 1975
Dưới đây là các nhầm lẫn hay xuất hiện khi người lập lá số gặp ngày sinh của giai đoạn này.
- Nghĩ rằng lịch Việt và lịch Trung Quốc chỉ lệch nhau năm 1985, nên không kiểm các năm trước 1975.
- Áp lịch UTC+7 cho người sinh ở Sài Gòn năm 1969 rồi cho rằng gia đình "nhớ sai" khi họ nói con sinh ngày 30 tháng Chạp.
- Trộn hai lịch: lấy ngày âm theo sổ gia đình (UTC+8) nhưng lấy tên tháng từ công cụ (UTC+7), ra một ngày âm không tồn tại ở lịch nào.
- Sửa cả giờ sinh vì nghĩ đổi múi giờ lịch thì phải đổi giờ. Lịch âm và giờ đồng hồ là hai câu chuyện khác nhau.
- Coi bảng tháng lệch là đầy đủ cho mọi năm. Bảng trong bài chỉ dành cho giai đoạn 1955 – 1975; năm khác cần tính riêng.
- Không ghi quy ước lên lá số, khiến người con hay cháu sau này lập lại bằng công cụ khác và nghĩ tờ lá số cũ sai.
Dù lập lá số bằng công cụ nào, hãy đọc dòng ngày âm công cụ hiển thị và so với bảng ở trên trước khi đọc tiếp các cung.
Câu hỏi thường gặp
Sinh ở Sài Gòn ngày 29/01/1968 thì ngày âm lịch là gì?
Theo lịch tính theo UTC+8, lịch được dùng ở miền Nam lúc đó, ngày 29/01/1968 là ngày 30 tháng Chạp năm Đinh Mùi. Theo lịch UTC+7 hiện hành, đó là mùng Một Tết Mậu Thân. Lá số nên ghi rõ đã đổi theo lịch nào, vì hai bản khác cả năm sinh.
Người sinh ở miền Bắc trước 1968 có bị ảnh hưởng không?
Theo các tài liệu lịch pháp thường dẫn, miền Bắc chỉ chuyển sang tính lịch theo UTC+7 từ năm 1968, nên người sinh ở miền Bắc trước đó cũng có thể gặp các tháng lệch như trong bảng. Cách xử lý giống người sinh ở miền Nam: đối chiếu với ngày âm gia đình ghi lại.
Nếu không còn ai nhớ ngày âm thì chọn lịch nào?
Không có câu trả lời đúng tuyệt đối. Một lựa chọn hợp lý là dùng lịch đang được dùng tại nơi sinh lúc đó, vì đó là ngày âm mà gia đình đã sống theo. Lựa chọn khác là dùng lịch hiện hành cho thống nhất. Điều quan trọng là ghi rõ lựa chọn lên lá số.
Có phải tháng nào cũng lệch giữa hai lịch không?
Không. Trong giai đoạn 1955 – 1975, chỉ khoảng mười tháng có ngày mùng Một lệch nhau, vì chỉ khi điểm sóc rơi vào khoảng 23 giờ đến nửa đêm giờ Việt Nam thì hai múi giờ mới cho ra hai ngày khác nhau. Các tháng còn lại hai cách tính cho cùng kết quả.
Can chi ngày có giúp biết lịch nào đúng không?
Can chi ngày không phụ thuộc lịch hay múi giờ, nên nó không chọn hộ bạn lịch nào. Nhưng nó giúp kiểm xem ngày dương lịch trên giấy tờ có khớp với ghi chép của gia đình không. Nếu sổ ghi ngày Kỷ Hợi mà ngày dương không phải ngày Kỷ Hợi, một trong hai đã ghi nhầm.
Lập lá số theo đúng lịch thời đó thì lá số có chính xác hơn không?
Lá số sẽ chính xác hơn về mặt dữ liệu, tức là khớp với lịch người ta dùng lúc sinh. Còn việc lá số đoán đúng đời người hay không thì chưa có bằng chứng, và chọn đúng lịch không thay đổi điều đó. Đổi lịch đúng chỉ là bảo đảm phép tính nhất quán.