TuViChinhXac.comTử Vi Chính Xác
Đổi dương lịch – âm lịch cho lá số

Sinh từ 23/11/1984 đến 19/4/1985: lá số theo lịch Việt và lịch Trung Quốc lệch ở đâu

Năm tháng âm lịch quanh Tết Ất Sửu 1985, lịch Việt và lịch Trung Quốc đánh số tháng khác nhau. Bảng đối chiếu từng đoạn ngày và những ô lá số bị kéo theo.

Two old lunar almanac booklets lying open side by side on a wooden desk in a Hanoi apartment, blank pages, a pencil and a wristwatch between them, warm lamp light

Người sinh trong khoảng 23/11/1984 đến 19/4/1985 có ngày âm lịch theo lịch Việt khác ngày âm lịch theo lịch Trung Quốc, và người sinh từ 21/01/1985 đến 19/02/1985 còn khác cả năm: lịch Việt ghi tháng Giêng năm Ất Sửu, lịch Trung Quốc ghi tháng Chạp năm Giáp Tý. Ngày trong tháng thì trùng nhau, chỉ tên tháng (và có lúc tên năm) bị lệch. Với lá số tử vi, lệch tên tháng đã đủ làm cung Mệnh, cung Thân dời chỗ; lệch tên năm thì gần như cả lá số đổi.

Bài này không giải thích lại vì sao hai nước có lịch khác nhau ở mức tổng quan. Nó đi thẳng vào ca cụ thể: chia khoảng năm tháng đó thành từng đoạn, ghi lịch Việt và lịch Trung Quốc gọi mỗi đoạn là tháng gì, rồi chỉ ra ô nào trên lá số bị kéo theo. Mọi ngày trong bài đã được tính lại bằng thuật toán điểm sóc và trung khí theo hai múi giờ UTC+7 và UTC+8. Lập đúng lá số theo lịch nào là chuyện dữ liệu; nó không làm cho lời đoán trên lá số có thêm bằng chứng.

Vì sao đúng khoảng này hai lịch tách nhau

Âm lịch Việt Nam và âm lịch Trung Quốc dùng chung một bộ quy tắc: tháng bắt đầu vào ngày có điểm sóc, tháng chứa điểm Đông chí là tháng Mười Một, năm có mười ba tháng thì tháng đầu tiên không chứa trung khí nào là tháng nhuận. Chỗ khác duy nhất là giờ dùng để xác định "ngày": lịch Việt tính theo kinh tuyến 105 độ Đông, tức UTC+7; lịch Trung Quốc tính theo kinh tuyến 120 độ Đông, tức UTC+8. Khi một điểm sóc hay một trung khí rơi vào khoảng từ 23 giờ đến nửa đêm giờ Việt Nam, ở Việt Nam nó vẫn thuộc ngày hôm trước, còn ở Trung Quốc nó đã sang ngày hôm sau.

Cuối năm 1984, điểm Đông chí rơi đúng vào tình huống đó. Theo phép tính, Đông chí xảy ra sau 23 giờ ngày 21/12/1984 giờ Việt Nam, tức đã qua nửa đêm sang ngày 22/12 giờ Bắc Kinh. Ngày 22/12/1984 lại là ngày sóc, ngày mở đầu một tháng âm. Ở Việt Nam, Đông chí nằm ở ngày cuối của tháng bắt đầu từ 23/11, nên tháng đó là tháng Mười Một. Ở Trung Quốc, Đông chí nằm ở ngày đầu của tháng bắt đầu từ 22/12, nên tháng bắt đầu từ 22/12 mới là tháng Mười Một.

Chỉ một chỗ khác ấy làm cả chuỗi tháng trượt đi: phía Trung Quốc phải chèn một tháng nhuận vào cuối năm Giáp Tý (tháng Mười nhuận), phía Việt Nam không chèn ở đó mà chèn tháng nhuận vào mùa xuân năm Ất Sửu (tháng Hai nhuận). Tới ngày 20/4/1985, khi cả hai lịch cùng bước vào tháng Ba năm Ất Sửu, hai bên mới khớp lại. Năm tháng ở giữa là vùng người lập lá số phải hỏi: tờ lá số này dùng lịch nào.

Bảng đối chiếu từng đoạn ngày

Bảng dưới chia khoảng 23/11/1984 – 19/4/1985 thành năm đoạn. Mỗi đoạn là một tháng âm; ngày mùng Một của hai lịch trùng nhau trong cả khoảng này, nên ngày trong tháng giống nhau, chỉ tên tháng và năm khác.

Đoạn ngày dương lịchLịch Việt (UTC+7)Lịch Trung Quốc (UTC+8)Khác ở đâu
23/11/1984 – 21/12/1984Tháng Mười Một năm Giáp TýTháng Mười nhuận năm Giáp TýTháng; phía Trung Quốc còn là tháng nhuận
22/12/1984 – 20/01/1985Tháng Chạp năm Giáp TýTháng Mười Một năm Giáp TýTháng lệch một
21/01/1985 – 19/02/1985Tháng Giêng năm Ất SửuTháng Chạp năm Giáp TýCả năm lẫn tháng
20/02/1985 – 20/03/1985Tháng Hai năm Ất SửuTháng Giêng năm Ất SửuTháng lệch một
21/03/1985 – 19/04/1985Tháng Hai nhuận năm Ất SửuTháng Hai năm Ất SửuPhía Việt Nam là tháng nhuận

Cách đọc bảng: nếu ngày sinh dương lịch của bạn nằm trong một đoạn, hãy xem hai cột giữa để biết hai lịch gọi tháng sinh là gì. Ví dụ giả định: một người sinh ngày 05/02/1985. Theo lịch Việt, đó là ngày 16 tháng Giêng năm Ất Sửu; theo lịch Trung Quốc, đó là ngày 16 tháng Chạp năm Giáp Tý. Con số 16 giống nhau, còn tháng và năm thì khác hẳn.

Ngoài năm đoạn này, hai lịch trong năm 1984 và 1985 còn lệch một ngày ở tháng Năm năm Giáp Tý (lịch Việt bắt đầu tháng từ 30/5/1984, lịch Trung Quốc từ 31/5/1984). Đó là kiểu lệch nhỏ hơn, cùng tên tháng nhưng số ngày chênh một, và cần kiểm riêng.

Đoạn 21/01 – 19/02/1985: khi cả năm sinh đổi theo

Can năm đổi từ Giáp sang Ất. Những sao an theo can năm như Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La, Thiên Khôi, Thiên Việt và bộ bốn sao hoá đều được đặt theo can. Đổi can là bộ sao này dời sang chỗ khác, và Tứ Hoá gắn vào bốn chính tinh khác. Theo lối an phổ biến, bốn sao hoá của can Giáp và bốn sao hoá của can Ất gắn vào tám chính tinh khác nhau, không trùng sao nào.

Chi năm đổi từ Tý sang Sửu. Vòng Thái Tuế, các sao an theo chi năm như Thiên Mã, Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ, Hoa Cái đều dời. Cung ghi "Thái Tuế" trên lá số cũng trượt sang cung bên cạnh.

Âm dương của năm đổi. Giáp là can dương, Ất là can âm. Với nam, năm dương thì đại vận đi thuận, năm âm thì đại vận đi nghịch; với nữ thì ngược lại. Hai lá số của cùng một người theo hai lịch có thể có đại vận đi hai chiều ngược nhau.

Ngũ hành cục có thể đổi. Can của cung Mệnh được suy từ can năm theo phép ngũ hổ độn. Can năm đổi, cung Mệnh lại dời do tháng đổi, nên cục là thứ phải tính lại chứ không được chép sang. Cục đổi thì vị trí sao Tử Vi đổi theo, kéo cả chòm Tử Vi và chòm Thiên Phủ.

Một thứ trùng hợp giữ nguyên. Giáp Tý và Ất Sửu cùng một nạp âm là Hải Trung Kim. Vì vậy dòng "mệnh" ghi ở ô giữa lá số có thể giống nhau ở cả hai bản, dễ khiến người xem tưởng hai lá số chỉ khác chút ít. Đừng dựa vào dòng đó để kết luận; hãy nhìn tên năm can chi ghi trên lá số.

Bốn đoạn còn lại: chỉ lệch tên tháng

Ở bốn đoạn còn lại, năm sinh giống nhau ở hai lịch, chỉ tên tháng khác. Trong cách an sao thông dụng, tháng sinh dùng để định cung Mệnh và cung Thân: khởi tháng Giêng ở cung Dần, đếm thuận tới tháng sinh, rồi từ đó đếm nghịch tới giờ sinh được cung Mệnh, đếm thuận tới giờ sinh được cung Thân. Tháng lệch một thì cả Mệnh lẫn Thân dời đúng một cung. Mười hai cung chức năng được xếp từ cung Mệnh nên cũng dời theo, cục có thể đổi vì can của cung Mệnh mới khác.

Ngoài ra, một nhóm sao an theo tháng cũng dời một cung: Tả Phù khởi ở Thìn đếm thuận theo tháng, Hữu Bật khởi ở Tuất đếm nghịch, Thiên Hình khởi ở Dậu đếm thuận, Thiên Diêu khởi ở Sửu đếm thuận. Có sách ghi thêm vài sao khác theo tháng; dù theo bản nào thì nguyên tắc vẫn vậy: tháng đổi, nhóm sao này đổi.

Hai đoạn có tháng nhuận cần thêm một quyết định. Từ 23/11 đến 21/12/1984, lịch Trung Quốc gọi là tháng Mười nhuận; từ 21/3 đến 19/4/1985, lịch Việt gọi là tháng Hai nhuận. Sách tử vi có nhiều quy ước cho người sinh tháng nhuận: tính như tháng trước, tính như tháng sau, hay chia đôi tháng tại ngày rằm. Theo quy ước "tính như tháng trước", đoạn 21/3 – 19/4/1985 cho tháng Hai ở cả hai lịch, tức là trùng; theo quy ước khác thì lại lệch. Lá số nào cũng nên ghi rõ đã dùng quy ước nào cho tháng nhuận.

Cách xác định tờ lá số đang cầm theo lịch nào

Nhiều người sinh trong khoảng này cầm hai tờ lá số khác nhau mà không biết vì sao. Các bước sau giúp bạn tìm ra nguồn gốc trong vài phút, không cần hiểu sâu về sao.

  1. Ghi lại ngày dương lịch và giờ sinh gốc, lấy từ giấy tờ chứ không lấy từ tờ lá số.
  2. Đọc dòng ngày âm lịch in trên mỗi tờ lá số (thường ở ô giữa). Ghi tên năm can chi, số tháng, chữ "nhuận" nếu có, và số ngày.
  3. Đối chiếu với bảng ở trên: nếu tờ lá số ghi đúng cột lịch Việt thì nó dùng lịch UTC+7; nếu ghi đúng cột lịch Trung Quốc thì nó dùng bảng lịch UTC+8, thường gặp ở phần mềm hoặc sách dịch từ nguồn nước ngoài.
  4. Nếu tờ lá số ghi một tháng không khớp cột nào, có thể người lập đã nhập sai ngày, hoặc đã tự xử lý tháng nhuận theo quy ước riêng. Lúc này hãy lập lại từ đầu thay vì cố đoán.
  5. Ghi một dòng ở góc lá số: "đổi theo lịch Việt UTC+7, tháng nhuận tính như tháng …". Một dòng đó giúp người đọc sau này khỏi phải lần lại toàn bộ quá trình.

Nếu dùng một công cụ trên mạng, hãy thử nó bằng ngày 05/02/1985. Công cụ tính đúng lịch Việt phải trả về ngày 16 tháng Giêng năm Ất Sửu. Trả về tháng Chạp năm Giáp Tý nghĩa là công cụ đó đang dùng bảng lịch Trung Quốc, và bạn cần biết điều này trước khi tin bất kỳ lá số nào nó lập cho người sinh quanh mốc này.

Chọn lịch nào cho người sinh ở Việt Nam

Với người sinh trên lãnh thổ Việt Nam năm 1984 – 1985, lịch đang dùng chính thức ở Việt Nam lúc đó là lịch tính theo UTC+7. Ngày âm lịch mà gia đình ghi nhớ, tờ lịch treo tường năm ấy in, ngày cả nhà ăn Tết Ất Sửu đều theo lịch này. Người sinh ngày 05/02/1985 ở Hà Nội đã được gia đình đón Tết từ hai tuần trước đó; nói người ấy "sinh tháng Chạp năm Giáp Tý" sẽ trái với chính ký ức của gia đình.

Tuy vậy, tử vi là một hệ thống ra đời và được ghi chép chủ yếu trong văn bản Trung Hoa, và có người lập lá số chủ trương dùng lịch Trung Quốc vì "sách gốc dùng lịch đó". Đây là một lựa chọn quy ước, không phải đúng sai về mặt thiên văn: cả hai lịch đều được tính đúng theo múi giờ của nó. Việc của người lập lá số là chọn một bên, nói rõ mình chọn bên nào, và không trộn hai bên trong cùng một lá số.

Người sinh năm đó ở nước ngoài thì cần quyết định thêm một lớp nữa (quy về giờ nơi sinh hay giờ Việt Nam), phần này thuộc chuyên mục về sinh ở nước ngoài. Còn ở đây, quy tắc gọn nhất là: sinh ở Việt Nam, đổi theo lịch Việt; nếu cầm lá số theo lịch khác, hãy ghi rõ và đừng so lời luận giữa hai bản như thể chúng cùng một dữ liệu.

Những lỗi hay gặp khi đổi lịch cho người sinh quanh Tết 1985

Dưới đây là các lỗi gặp nhiều nhất khi người dùng tự đổi hoặc tự đối chiếu lá số cho khoảng này.

  • Tra một cuốn lịch vạn niên in lại từ bảng của nước ngoài, cho ra tháng Chạp năm Giáp Tý với người sinh đầu tháng 2/1985.
  • Nghe nói "năm 1985 có tháng nhuận" rồi tự đánh dấu nhuận vào tháng Mười năm 1984, tức là lấy tháng nhuận của lịch Trung Quốc gắn vào lịch Việt.
  • Thấy hai lá số cùng ghi mệnh Hải Trung Kim nên cho rằng chúng giống nhau, bỏ qua chuyện năm can chi khác.
  • Chỉ kiểm ngày (thấy cùng là ngày 16) mà không kiểm tháng, vì nghĩ hai lịch nếu lệch thì sẽ lệch ngày trước.
  • Đổi ngày đúng nhưng lại chọn tuổi theo mốc lập xuân của bát tự (khoảng 4/2/1985) cho lá số tử vi, làm năm sinh của người sinh 21/01 – 03/02/1985 bị gán nhầm thành Giáp Tý.
  • Sửa tay một ô trên lá số theo lịch khác mà không lập lại toàn bộ, tạo ra lá số nửa này nửa kia không theo quy tắc nào.

Mỗi lỗi trên đều có cách tránh chung: đổi lại từ ngày dương lịch gốc bằng hai nguồn độc lập, ghi rõ lịch và quy ước, rồi mới lập lá số. Sau đó nếu muốn, bạn có thể lập lá số trên AI Huyền Học và đối chiếu từng ô theo bảng ở trên.

Câu hỏi thường gặp

Sinh ngày 10/02/1985 thì tuổi Giáp Tý hay Ất Sửu?

Theo lịch Việt, ngày 10/02/1985 là ngày 21 tháng Giêng năm Ất Sửu, nên lá số theo lịch Việt ghi năm Ất Sửu. Theo lịch Trung Quốc, cùng ngày đó là ngày 21 tháng Chạp năm Giáp Tý. Người sinh ở Việt Nam thường dùng lịch Việt, nhưng lá số nên ghi rõ đã đổi theo lịch nào.

Ngày âm lịch trong khoảng này có lệch ngày không, hay chỉ lệch tháng?

Trong khoảng 23/11/1984 đến 19/4/1985, ngày mùng Một của hai lịch trùng nhau, nên số ngày trong tháng giống nhau. Chỗ khác là tên tháng, có đoạn khác cả tên năm, và vị trí tháng nhuận. Riêng tháng Năm năm Giáp Tý (từ cuối tháng 5/1984) thì hai lịch lệch một ngày.

Năm 1985 nhuận tháng mấy?

Theo lịch Việt tính theo UTC+7, năm Ất Sửu có tháng Hai nhuận, kéo dài từ 21/3 đến 19/4/1985. Theo lịch Trung Quốc tính theo UTC+8, tháng nhuận rơi vào cuối năm Giáp Tý, là tháng Mười nhuận từ 23/11 đến 21/12/1984. Đây là lý do hai lịch đánh số tháng khác nhau suốt năm tháng.

Có phải lịch Việt sai so với lịch Trung Quốc không?

Không. Cả hai lịch dùng chung quy tắc điểm sóc và trung khí, chỉ khác múi giờ dùng để xác định ngày. Mỗi lịch đúng với múi giờ của nó. Năm 1985 nổi bật vì điểm Đông chí rơi sát nửa đêm, nên chỉ một giờ chênh lệch cũng đủ làm thứ tự tháng khác đi.

Hai lá số của cùng một người khác nhau nhiều thì nên giữ bản nào?

Hãy giữ bản mà bạn biết rõ đã lập theo lịch nào và quy ước nào, và ghi điều đó lên lá số. Với người sinh ở Việt Nam, bản theo lịch Việt khớp với ký ức gia đình và lịch đang dùng lúc sinh. Lập đúng lá số theo một lịch không làm cho lời đoán trên lá số có bằng chứng hơn.

Dùng ngày nào để thử một công cụ đổi lịch nhanh nhất?

Ngày 05/02/1985 là ngày thử tốt. Công cụ dùng lịch Việt phải trả về ngày 16 tháng Giêng năm Ất Sửu; công cụ dùng lịch Trung Quốc sẽ trả về ngày 16 tháng Chạp năm Giáp Tý. Thêm ngày 25/3/1985 để xem công cụ có đánh dấu tháng Hai nhuận theo lịch Việt hay không.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183