Khi phép đổi dương lịch sang âm lịch lệch một ngày, phần lá số đổi theo chủ yếu là sao Tử Vi (kéo cả hai chòm chính tinh) và nhóm sao an theo ngày như Tam Thai, Bát Tọa, Ân Quang, Thiên Quý; cung Mệnh, cung Thân và các sao theo năm, theo giờ giữ nguyên, trừ khi ngày lệch làm đổi luôn tháng hoặc năm. Mức thay đổi không đều: có ngày lệch một mà Tử Vi đứng yên, có ngày lệch một mà Tử Vi nhảy ba bốn cung.
Bài này giúp bạn đánh giá "tác động" của một lỗi đổi lịch trước khi bỏ công lập lại: nếu hai nguồn cho hai ngày âm cạnh nhau, những ô nào cần nhìn lại, những ô nào không cần. Quy tắc an sao trong bài là lối phổ biến trong sách tử vi lưu hành ở Việt Nam; có sách ghi khác ở một vài sao phụ, khi đó nguyên tắc phân tích vẫn giữ được. Cần nói rõ một điều: biết lá số đổi ở ô nào chỉ là kiểm dữ liệu, không phải đánh giá ô nào "tốt hơn".
Ba lớp dữ liệu và ba nhóm sao đi theo
Lớp năm. Can năm quyết định Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La, Thiên Khôi, Thiên Việt, bốn sao hoá; chi năm quyết định vòng Thái Tuế, Thiên Mã, Đào Hoa, Hồng Loan và nhiều sao khác; can năm còn quyết định can của các cung nên ảnh hưởng ngũ hành cục. Một ngày lệch chỉ đụng tới lớp này nếu nó vượt qua ranh giới năm âm lịch, tức là ngày Tết.
Lớp tháng. Tháng sinh âm lịch cùng với giờ sinh quyết định cung Mệnh và cung Thân; tháng còn quyết định nhóm sao an theo tháng như Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Hình, Thiên Diêu. Một ngày lệch chỉ đụng tới lớp này nếu nó vượt qua ngày mùng Một.
Lớp ngày. Ngày sinh âm lịch cùng với ngũ hành cục quyết định vị trí sao Tử Vi; từ Tử Vi suy ra mười bốn chính tinh. Ngày còn quyết định Tam Thai, Bát Tọa (đếm từ Tả Phù, Hữu Bật) và Ân Quang, Thiên Quý (đếm từ Văn Xương, Văn Khúc). Đây là lớp chắc chắn bị chạm khi ngày lệch.
Lớp giờ. Giờ sinh quyết định Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp và góp phần định Hoả Tinh, Linh Tinh. Đổi lịch không đụng tới giờ, nên nhóm này đứng yên, trừ khi lỗi lệch ngày bắt nguồn từ giờ Tý ranh giới, một ca riêng thuộc chuyên mục giờ sinh.
Ý nghĩa thực tế. Phân lớp như vậy cho bạn một danh sách kiểm ngắn: lệch ngày giữa tháng thì chỉ cần nhìn lại lớp ngày; lệch ngày ở đầu tháng thì thêm lớp tháng; lệch ngày quanh Tết thì phải lập lại cả lá số.
Sao Tử Vi dời thế nào khi ngày đổi một
Theo lối an phổ biến, vị trí Tử Vi tính từ ngày sinh và số cục (2, 3, 4, 5 hoặc 6). Cách làm: tìm số nhỏ nhất mà nhân với số cục thì bằng hoặc vượt ngày sinh, gọi là thương; phần vượt là số dư bù. Khởi từ cung Dần, đếm thuận theo thương (thương bằng một là cung Dần). Nếu số dư bù là số chẵn thì tiến thêm bấy nhiêu cung, là số lẻ thì lùi bấy nhiêu cung. Phép tính này giải thích vì sao các bảng an Tử Vi trông "nhảy cóc" chứ không tăng đều.
Hệ quả cho chuyện lệch ngày: với Thuỷ nhị cục, hai ngày liền nhau thường cho cùng một cung hoặc hai cung cạnh nhau; ví dụ ngày 2 và ngày 3 đều cho Tử Vi ở Dần. Với cục lớn, bước nhảy lớn hơn nhiều. Hoả lục cục ngày 1 cho Tử Vi ở Dậu, ngày 2 cho Tử Vi ở Ngọ, ngày 3 cho Tử Vi ở Hợi: mỗi ngày lệch dời Tử Vi ba đến năm cung. Thổ ngũ cục ngày 1 ở Ngọ, ngày 2 ở Hợi; Kim tứ cục ngày 1 ở Hợi, ngày 2 ở Thìn.
Vì chòm Tử Vi và chòm Thiên Phủ được an theo vị trí Tử Vi (Thiên Phủ đối xứng với Tử Vi qua trục Dần – Thân), dời Tử Vi là dời cả mười bốn chính tinh. Cung Mệnh vẫn ở chỗ cũ nhưng các chính tinh nằm trong cung Mệnh có thể khác hẳn. Đó là lý do một lỗi đổi lịch "chỉ một ngày" có thể làm hai lá số trông như của hai người khác nhau, dù ô thông tin giữa chỉ khác một con số.
Bảng thử: Tử Vi theo cục ở sáu ngày đầu tháng
Bảng dưới được tính từ quy tắc vừa nêu, dùng để thấy độ "nhạy" của mỗi cục với một ngày lệch. Đây là bảng minh hoạ quy tắc, không phải bảng tra đầy đủ.
| Cục | Ngày 1 | Ngày 2 | Ngày 3 | Ngày 4 | Ngày 5 | Ngày 6 |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Thuỷ nhị cục | Sửu | Dần | Dần | Mão | Mão | Thìn |
| Mộc tam cục | Thìn | Sửu | Dần | Tỵ | Dần | Mão |
| Kim tứ cục | Hợi | Thìn | Sửu | Dần | Tý | Tỵ |
| Thổ ngũ cục | Ngọ | Hợi | Thìn | Sửu | Dần | Mùi |
| Hoả lục cục | Dậu | Ngọ | Hợi | Thìn | Sửu | Dần |
Cách tự kiểm một ô: lấy Kim tứ cục, ngày 5. Thương là 2 (vì 2 × 4 = 8 ≥ 5), số dư bù là 3. Từ Dần đếm thuận 2 được Mão; số dư bù lẻ nên lùi 3 cung: Dần, Sửu, Tý. Kết quả Tý, khớp với bảng. Làm như vậy với vài ô bất kỳ, bạn sẽ bắt được bảng in sai nếu có.
Nhận xét nhanh: ở mọi cục, ngày bằng đúng số cục luôn cho Tử Vi ở Dần (vì thương là 1, dư bù là 0). Đây là một phép thử nhanh cho mọi bảng an Tử Vi bạn gặp.
Bốn sao an theo ngày dời theo kiểu khác
Ngoài Tử Vi, theo lối an phổ biến có bốn sao phụ đi theo ngày sinh. Tam Thai khởi từ cung có Tả Phù, coi đó là ngày mùng Một rồi đếm thuận tới ngày sinh. Bát Tọa khởi từ cung có Hữu Bật, coi đó là mùng Một rồi đếm nghịch tới ngày sinh. Ân Quang khởi từ cung có Văn Xương, đếm thuận tới ngày sinh rồi lùi lại một cung. Thiên Quý khởi từ cung có Văn Khúc, đếm nghịch tới ngày sinh rồi tiến lại một cung. Có sách mô tả cách đếm hơi khác ở hai sao sau; khi so lá số, cần chú ý điều này.
Điểm khác với Tử Vi là các sao này dời đều: ngày lệch một thì sao lệch đúng một cung. Tam Thai và Ân Quang tiến một cung, Bát Tọa và Thiên Quý lùi một cung (hoặc ngược lại tuỳ ngày âm lớn hay nhỏ hơn). Vì vậy khi bạn đặt hai lá số cạnh nhau và thấy bốn sao này cùng trượt một ô theo hai chiều đối nhau, đó là dấu hiệu khá chắc rằng hai lá số chỉ khác nhau ở ngày âm, không khác ở chỗ nào khác.
Dấu hiệu này hữu ích khi bạn nhận một lá số từ người khác mà không biết họ nhập gì. Thấy Tam Thai, Bát Tọa trượt mà Tả Phù, Hữu Bật đứng yên, bạn biết tháng giống nhau, chỉ ngày khác. Thấy cả Tả Phù, Hữu Bật trượt, bạn biết tháng đã khác.
Ví dụ giả định: cùng một lỗi, hai mức thiệt hại
Giả định hai người cùng gặp một lỗi: nguồn A đổi ra ngày 14, nguồn B đổi ra ngày 15, cùng tháng, cùng năm. Người thứ nhất có lá số Thổ ngũ cục, người thứ hai có lá số Hoả lục cục. Cung Mệnh, cung Thân, các sao theo năm, theo tháng, theo giờ của mỗi người đều giữ nguyên giữa hai bản; chỉ lớp ngày thay đổi.
Với người Thổ ngũ cục, ngày 14 cho Tử Vi ở Mão, ngày 15 cho Tử Vi ở Thìn. Thiên Phủ, đối xứng với Tử Vi qua trục Dần – Thân, đi từ Sửu sang Tý. Hai chòm chính tinh đều trượt một cung, nhiều cung vẫn giữ một phần sao cũ. Lỗi này đáng sửa nhưng hai bản lá số còn nhận ra là "na ná" nhau.
Với người Hoả lục cục, ngày 14 cho Tử Vi ở Thân, nơi Tử Vi và Thiên Phủ đứng chung một cung; ngày 15 cho Tử Vi ở Sửu, còn Thiên Phủ sang Mão. Bố cục chính tinh của hai bản khác hẳn nhau. Người cầm hai tờ lá số này dễ nghĩ chúng của hai người khác nhau. Cùng một lỗi đổi lịch, mức thiệt hại tuỳ vào cục, nên đừng đánh giá lỗi qua độ lớn của con số lệch. Mọi vị trí trong ví dụ đều tính theo quy tắc ở trên và bạn có thể tự kiểm lại bằng cách đếm cung.
Khi ngày lệch kéo theo tháng hoặc năm
Ngày lệch một ở giữa tháng là ca nhẹ. Ba ca sau nặng hơn và cần lập lại toàn bộ lá số, không sửa tay từng ô.
- Lệch qua ngày mùng Một: một nguồn cho ngày 30 (hoặc 29) tháng trước, nguồn kia cho mùng Một tháng sau. Tháng đổi nên cung Mệnh, cung Thân dời một cung, mười hai cung chức năng dời theo, cục có thể đổi, và Tử Vi phải tính lại từ đầu với cục mới.
- Lệch qua tháng nhuận: một nguồn cho ngày cuối tháng thường, nguồn kia cho mùng Một tháng nhuận. Lúc này còn phụ thuộc quy ước tính tháng nhuận của người lập, phải ghi rõ.
- Lệch qua ngày Tết: một nguồn cho ngày 30 tháng Chạp năm cũ, nguồn kia cho mùng Một năm mới. Can chi năm đổi nên gần như mọi lớp đổi, kể cả chiều đại vận.
- Lệch vì một nguồn dùng lịch tính theo múi giờ khác (ví dụ lịch Trung Quốc UTC+8): kiểu lệch này thường kéo dài cả tháng, không chỉ một ngày, nên mọi ngày trong tháng đó đều phải kiểm.
Mẹo nhận biết: nếu ngày âm hai nguồn cho là mùng Một và 30, hoặc mùng Một và 29, đó gần như chắc chắn là ca lệch qua ranh giới tháng. Đừng chỉ sửa con số ngày.
Quy trình xử lý khi hai nguồn cho hai ngày âm cạnh nhau
Thay vì lập hai lá số rồi so từng sao, bạn có thể làm theo thứ tự dưới đây để khoanh vùng nhanh.
- Ghi ngày dương lịch gốc và giờ sinh từ giấy tờ.
- Xác định nguyên nhân lệch: hai nguồn dùng múi giờ lịch khác nhau, một nguồn nhập nhầm, hay ngày sinh rơi sát ranh giới tháng.
- Đổi lại bằng nguồn thứ ba độc lập và kiểm can chi ngày của ngày dương lịch, vì can chi ngày không phụ thuộc lịch nào.
- Chốt một ngày âm, ghi rõ lịch và quy ước đã dùng.
- Nếu ngày chốt cùng tháng với lá số cũ, chỉ cần tính lại Tử Vi, hai chòm chính tinh và bốn sao theo ngày; nếu khác tháng hoặc năm, lập lại cả lá số.
- Đặt lá số mới cạnh lá số cũ, đánh dấu các ô thay đổi để sau này không ai nhầm hai bản.
Dù lập lá số bằng công cụ nào, quy trình này vẫn áp dụng: công cụ nào cũng chỉ đúng khi ngày âm đưa vào đã được kiểm.
Câu hỏi thường gặp
Ngày âm lệch một thì cung Mệnh có đổi không?
Thường là không. Cung Mệnh được định từ tháng sinh và giờ sinh, không dùng ngày. Chỉ khi ngày lệch vượt qua ranh giới tháng, tức một nguồn cho mùng Một còn nguồn kia cho ngày cuối tháng trước, thì tháng đổi và cung Mệnh mới dời một cung.
Vì sao có khi lệch một ngày mà chính tinh trong Mệnh khác hẳn?
Vì vị trí sao Tử Vi phụ thuộc ngày sinh và ngũ hành cục theo một quy tắc có bước nhảy. Với cục lớn như Hoả lục cục, một ngày lệch có thể dời Tử Vi ba đến năm cung, và mười bốn chính tinh dời theo, nên chính tinh trong cung Mệnh có thể khác hoàn toàn.
Có trường hợp lệch ngày mà Tử Vi không đổi không?
Có. Ví dụ với Thuỷ nhị cục, ngày 2 và ngày 3 đều cho Tử Vi ở cung Dần. Khi đó hai chòm chính tinh giữ nguyên; chỉ bốn sao an theo ngày như Tam Thai, Bát Tọa, Ân Quang, Thiên Quý dời một cung.
Làm sao biết hai lá số chỉ khác ngày hay khác cả tháng?
Nhìn Tả Phù và Hữu Bật, hai sao an theo tháng. Nếu chúng đứng yên mà Tam Thai, Bát Tọa trượt một ô, hai lá số chỉ khác ngày. Nếu Tả Phù, Hữu Bật cũng trượt, tháng đã khác, và cung Mệnh, cung Thân cũng phải kiểm lại.
Sửa tay vài sao trên lá số cũ có được không?
Không nên. Một ngày lệch có thể kéo theo Tử Vi, hai chòm chính tinh, bốn sao theo ngày, và nếu qua ranh giới tháng thì cả cục. Sửa tay dễ bỏ sót, tạo ra lá số không theo quy tắc nào. Lập lại từ dữ liệu đã kiểm vẫn an toàn hơn.
Lá số sau khi sửa ngày có đúng hơn về mặt dự đoán không?
Lá số sửa xong đúng hơn về dữ liệu và quy tắc, nghĩa là nó nhất quán với ngày sinh thật. Nhưng điều đó không cho lời đoán từ lá số thêm bằng chứng. Hãy tách hai việc: lập đúng một lá số và tin những gì lá số nói.