Người sinh ở Lào, Campuchia, Thái Lan dùng cùng múi UTC+7 với Việt Nam nên gần như không phải quy đổi; người sinh ở Singapore, Malaysia, Philippines, Brunei, phần lớn Indonesia lại ở múi khác, và Singapore cùng Malaysia bán đảo còn đổi múi giờ vào ngày 1 tháng 1 năm 1982. Vì các nước này nằm sát Việt Nam, người ta hay nghĩ chênh lệch không đáng kể, nhưng chênh nửa tiếng đến một tiếng là đủ để một giờ sinh sát ranh nhảy sang giờ âm lịch bên cạnh.
Bài này đi từng nước, nêu mốc theo cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế, kèm ví dụ giả định ở Singapore trước và sau năm 1982 đã tự tính lại. Mục tiêu duy nhất là dữ liệu vào lá số khớp với quy ước bạn chọn; lá số lập kỹ đến đâu thì phần luận giải vẫn là chuyện văn hoá, chưa phải điều đã được kiểm chứng.
Múi giờ Đông Nam Á hiện nay
Không nước nào trong khu vực hiện áp dụng giờ mùa hè. Bảng ghi múi giờ hiện tại theo cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế.
| Nước, vùng | Múi giờ | Chênh với Việt Nam | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Lào, Campuchia, Thái Lan | UTC+7 | Không chênh | Cùng múi với Việt Nam |
| Indonesia miền tây (Java, Sumatra; Jakarta) | UTC+7 | Không chênh | Gọi là WIB |
| Indonesia miền trung (Bali, Sulawesi, Kalimantan nam và đông) | UTC+8 | Hơn 1 tiếng | Gọi là WITA |
| Indonesia miền đông (Papua, Maluku) | UTC+9 | Hơn 2 tiếng | Gọi là WIT |
| Singapore, Malaysia, Brunei, Philippines | UTC+8 | Hơn 1 tiếng | Singapore và Malaysia bán đảo dùng UTC+7:30 trước 1982 |
| Myanmar | UTC+6:30 | Kém nửa tiếng | Múi lệch nửa tiếng |
Indonesia là nước duy nhất trong khu vực có nhiều múi giờ, nên với người sinh ở Indonesia cần biết tỉnh nơi sinh. Bali, nơi nhiều người Việt du lịch và làm việc, ở UTC+8 chứ không cùng giờ Jakarta.
Chênh lệch trong khu vực nhỏ, nên quy về giờ Việt Nam gần như không bao giờ làm đổi ngày, trừ những ca sinh sát nửa đêm ở Singapore, Malaysia, Philippines. Ví dụ sinh lúc 0 giờ 20 sáng ở Kuala Lumpur thì ở Việt Nam vẫn là 23 giờ 20 đêm hôm trước. Nếu hôm trước lại là ngày cuối tháng âm lịch, chọn quy ước nào sẽ quyết định cả tháng sinh trên lá số. Với giờ Tý, còn có thêm câu hỏi quen thuộc về giờ Tý sớm, giờ Tý muộn mà các sách xử lý khác nhau.
Singapore và Malaysia: ngày 1 tháng 1 năm 1982
Theo cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế, Singapore và Malaysia bán đảo dùng UTC+7:30 cho đến hết năm 1981, rồi chuyển sang UTC+8 từ ngày 1 tháng 1 năm 1982 để cùng giờ với Đông Malaysia (Sabah, Sarawak). Đồng hồ được vặn sớm nửa tiếng một lần và giữ luôn đến nay.
Ví dụ giả định: hai em bé sinh lúc 13 giờ 40 ngày 12 tháng 5, một em năm 1980, một em năm 1985, đều ở Singapore. Theo giờ đồng hồ nơi sinh, cả hai đều thuộc giờ Mùi. Quy về giờ Việt Nam, em năm 1980 sinh lúc 13 giờ 10, vẫn giờ Mùi; em năm 1985 sinh lúc 12 giờ 40, giờ Ngọ. Cùng giờ đồng hồ, cùng thành phố, hai kết quả khác nhau chỉ vì năm sinh nằm hai bên mốc 1982.
Ngày âm lịch của hai em theo lịch Việt là 28 tháng Ba năm Canh Thân và 23 tháng Ba năm Ất Sửu. Ví dụ này cho thấy với Singapore và Malaysia, người lập lá số không chỉ cần biết "Singapore là UTC+8" mà phải biết điều đó đúng từ năm nào.
Malaysia và Singapore trước 1982 còn có những giai đoạn múi giờ khác nữa trong và sau thế chiến. Người lập lá số cho người thân sinh trước năm 1960 ở đó nên tra theo ngày bằng công cụ dựa trên cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế.
Đồng hồ chạy trước mặt trời ở Singapore, chậm hơn ở Bangkok
Nếu chọn cách lập lá số theo giờ mặt trời nơi sinh, Đông Nam Á có những chênh lệch lớn hơn người ta nghĩ. UTC+8 được đặt theo kinh tuyến 120 độ đông, trong khi Singapore nằm khoảng 103,85 độ kinh đông. Chênh khoảng 16 độ, nhân bốn phút mỗi độ, mặt trời trung bình ở Singapore chậm hơn đồng hồ khoảng 65 phút. Nói cách khác, giờ mặt trời trung bình ở Singapore vào khoảng UTC+6:55, gần với giờ Bangkok hơn là giờ trên đồng hồ Singapore.
Áp vào ví dụ trên: em sinh năm 1985 lúc 13 giờ 40 ở Singapore thì giờ mặt trời trung bình là khoảng 12 giờ 35, giờ Ngọ; em sinh năm 1980 lúc 13 giờ 40 (khi đó đồng hồ ở UTC+7:30) thì giờ mặt trời trung bình khoảng 13 giờ 05, giờ Mùi, nhưng chỉ cách ranh vài phút, nên độ lệch của mặt trời thật theo mùa cũng có thể đẩy sang giờ Ngọ.
Bangkok nằm khoảng 100,5 độ kinh đông, cách kinh tuyến 105 độ của UTC+7 khoảng 4,5 độ, nên mặt trời trung bình ở Bangkok chậm hơn đồng hồ khoảng 18 phút. Phnom Penh khoảng 104,9 độ, gần như trùng giờ đồng hồ. Hà Nội ở khoảng 105,8 độ, mặt trời sớm hơn đồng hồ vài phút. Những con số này chỉ đáng bận tâm khi giờ sinh nằm sát ranh hai giờ âm lịch.
Philippines, Indonesia, Myanmar: những chi tiết dễ quên
Philippines. Philippines ở UTC+8. Theo cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế, nước này có áp dụng giờ mùa hè ngắn hạn trong một vài năm, gần nhất là năm 1990 (khoảng cuối tháng 5 đến cuối tháng 7). Ví dụ giả định: sinh lúc 8 giờ 30 ngày 20 tháng 6 năm 1990 ở Manila thì giờ chuẩn là 7 giờ 30, giờ Thìn; ca này trừ hay không trừ vẫn là giờ Thìn, nhưng quy về giờ Việt Nam thì là 6 giờ 30, giờ Mão.
Indonesia. Jakarta dùng UTC+7:30 cho tới hết năm 1963 và chuyển sang UTC+7 từ năm 1964, theo cơ sở dữ liệu múi giờ. Người sinh ở Indonesia trước 1964 nên tra theo ngày. Ngoài ra, ranh giới giữa ba múi giờ của Indonesia từng được điều chỉnh, nên với các tỉnh nằm gần ranh, cũng nên tra theo tên thành phố.
Myanmar. Myanmar ở UTC+6:30, kém Việt Nam nửa tiếng. Múi lệch nửa tiếng thường bị làm tròn khi tính nhẩm. Ví dụ giả định: sinh lúc 6 giờ 50 ở Yangon là 7 giờ 20 giờ Việt Nam, đã sang giờ Thìn, trong khi theo giờ nơi sinh vẫn là giờ Mão.
Brunei, Đông Malaysia. Hai vùng này ở UTC+8 từ lâu, không có mốc 1982 như Singapore. Gia đình có con sinh ở Kuching hay Kota Kinabalu đừng áp mốc 1982 vào.
Giấy tờ và lời kể ở khu vực: chỗ hay lệch
Nhiều gia đình người Việt sống ở Campuchia, Lào nhiều thế hệ, giấy tờ cũ có khi không còn, giờ sinh chỉ còn trong trí nhớ của ông bà. Lời kể kiểu "sinh lúc gà gáy", "sinh lúc chợ vừa nhóm" mang ý nghĩa theo nếp sinh hoạt từng vùng; đổi chúng ra giờ đồng hồ thì nên ghi thành một khoảng, ví dụ từ 4 đến 5 giờ sáng, chứ không phải một mốc. Nếu khoảng đó trùm qua ranh hai giờ âm lịch, lập cả hai lá số và ghi rõ.
Với người sinh ở Singapore, Malaysia trong thời gian cha mẹ đi lao động, giấy khai sinh thường ghi giờ theo dạng 24 giờ hoặc 12 giờ kèm AM, PM. Giấy tờ Thái Lan có thể ghi năm theo Phật lịch, lớn hơn dương lịch 543 năm. Giấy tờ Campuchia, Lào có thể ghi bằng chữ và số địa phương; nhờ người đọc được tiếng nước đó dịch đúng ô ngày giờ trước khi dùng.
Một lệch khác là thư hay tin nhắn báo tin. Vì Singapore, Malaysia chỉ hơn Việt Nam một tiếng, người báo tin đôi khi tự trừ một tiếng cho người nhà dễ hiểu, đôi khi không. Nếu giờ trong tin nhắn và giờ trên giấy tờ lệch đúng một tiếng, gần như chắc một bên đã đổi. Lấy giấy tờ gốc làm chuẩn.
Bốn lỗi hay gặp
Coi cả khu vực là cùng giờ Việt Nam. Lỗi này đúng với Lào, Campuchia, Thái Lan, Jakarta, nhưng sai với Singapore, Kuala Lumpur, Manila, Bali. Hỏi nơi sinh cụ thể trước khi kết luận "không cần đổi". Câu hỏi này đặc biệt cần khi một gia đình có nhiều con sinh ở nhiều nơi, vì người lập lá số hay làm cho người đầu rồi áp nguyên cách cho những người sau.
Áp UTC+8 cho Singapore trước 1982. Người sinh ở Singapore, Malaysia bán đảo trước ngày 1 tháng 1 năm 1982 chỉ hơn Việt Nam nửa tiếng. Áp UTC+8 là lệch thêm nửa tiếng.
Làm tròn múi nửa tiếng. Myanmar UTC+6:30 và Singapore trước 1982 UTC+7:30 đều có nửa tiếng lẻ. Tính nhẩm hay làm tròn thành nguyên giờ, và nửa tiếng bị mất đúng ở những ca sát ranh. Cách tránh đơn giản là viết phép tính ra giấy với cả giờ lẫn phút, và kiểm lại bằng cách tính ngược từ giờ Việt Nam về giờ nơi sinh.
Đổi năm Phật lịch sai. Năm Phật lịch của Thái Lan lớn hơn dương lịch 543 năm. Trừ nhầm 544 hay 542 là sai một năm, tức là sai can chi năm và hàng loạt sao theo năm.
Thứ tự làm cho người sinh ở Đông Nam Á
- Ghi ngày giờ nguyên văn và thành phố nơi sinh; giấy tờ Thái Lan có thể ghi năm theo Phật lịch, trừ 543 ra năm dương lịch.
- Xác định múi giờ của thành phố, không chỉ của nước: Indonesia có ba múi, Malaysia có hai vùng với lịch sử khác nhau.
- Với Singapore và Malaysia bán đảo, kiểm năm sinh trước hay sau ngày 1 tháng 1 năm 1982; với Jakarta, trước hay sau năm 1964.
- Với Philippines năm 1990 và các năm có giờ mùa hè ngắn hạn, tra theo ngày cụ thể.
- Chọn quy ước giờ: giờ chuẩn nơi sinh, giờ mặt trời, hay giờ Việt Nam; nếu chọn giờ mặt trời, tính độ lệch kinh độ như phần trên.
- Đổi ngày dương sang âm lịch theo lịch Việt, ghi một dòng chú thích lên lá số.
Với Lào, Campuchia, Thái Lan, phần lớn công việc chỉ là bước một và bước sáu. Nhưng cũng chính vì "không cần làm gì" mà người ta hay áp sai cho Singapore, Malaysia hay Bali những gì chỉ đúng với Bangkok.
Câu hỏi thường gặp
Sinh ở Thái Lan có phải đổi giờ không?
Không cần đổi múi giờ vì Thái Lan dùng UTC+7 như Việt Nam và không có giờ mùa hè. Nếu chọn giờ mặt trời, mặt trời trung bình ở Bangkok chậm hơn đồng hồ khoảng 18 phút, chỉ đáng tính khi giờ sinh sát ranh.
Sinh ở Singapore năm 1980 thì múi giờ là bao nhiêu?
Theo cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế, trước ngày 1 tháng 1 năm 1982 Singapore dùng UTC+7:30, tức là hơn Việt Nam nửa tiếng. Từ năm 1982 mới là UTC+8, hơn Việt Nam một tiếng.
Sinh ở Bali thì cùng giờ Jakarta không?
Không. Bali thuộc múi giờ miền trung Indonesia UTC+8, hơn Jakarta và Việt Nam một tiếng. Indonesia có ba múi giờ, nên luôn tra theo thành phố hoặc tỉnh nơi sinh.
Giấy tờ Thái Lan ghi năm 2538 là năm nào?
Thái Lan dùng Phật lịch, lớn hơn dương lịch 543 năm. Năm 2538 Phật lịch là năm 1995 dương lịch. Đổi năm đúng trước khi làm các bước quy đổi giờ và lịch âm.
Sinh ở Campuchia, Lào có cần ghi chú gì không?
Hai nước này cùng múi UTC+7 với Việt Nam nên giờ trên giấy tờ dùng thẳng được. Vẫn nên ghi nơi sinh lên lá số để người khác biết bạn đã cân nhắc múi giờ và không cần quy đổi.
Quy đổi chuẩn múi giờ Đông Nam Á có làm lá số đoán đúng hơn?
Quy đổi chuẩn chỉ giúp lá số khớp quy ước bạn chọn. Giá trị dự đoán của tử vi là câu hỏi riêng và đến nay chưa có bằng chứng ủng hộ. Hãy coi việc lập lá số cẩn thận như làm đúng một phép tính văn hoá.