Triệt an theo can năm sinh, Tuần an theo "tuần giáp" chứa năm sinh trong vòng 60 hoa giáp; cả hai đều chiếm một cặp cung liền nhau. Triệt chỉ có năm vị trí, Tuần chỉ có sáu, nên hai bảng rất ngắn. Cái khó không nằm ở bảng mà ở chỗ xác định đúng can chi năm sinh âm lịch và đọc đúng cặp cung trên lá số.
Bài đưa hai bảng đã dựng lại từ quy tắc, cách suy ra từng ô bằng vòng 60 hoa giáp để khỏi phải thuộc, các phép thử nhanh và những lỗi hay gặp khi vẽ Tuần Triệt lên lá số. Ý nghĩa của Tuần Triệt trên từng cung không thuộc phạm vi bài.
Dữ kiện đầu vào: can chi năm sinh âm lịch
Cả Tuần lẫn Triệt chỉ cần một dữ kiện: cặp can chi của năm sinh âm lịch, ví dụ Canh Ngọ, Quý Hợi. Không cần tháng, ngày, giờ hay giới tính. Vì vậy hai bảng này là phần ổn định nhất của lá số: nếu can chi năm đúng thì Tuần Triệt đúng, và mọi người sinh trong cùng một năm âm lịch đều có Tuần Triệt ở cùng chỗ.
Muốn lấy can chi năm từ năm dương lịch của năm âm lịch ấy, có thể dùng hai phép tính nhỏ. Can theo chữ số cuối của năm: 4 là Giáp, 5 Ất, 6 Bính, 7 Đinh, 8 Mậu, 9 Kỷ, 0 Canh, 1 Tân, 2 Nhâm, 3 Quý. Chi theo số dư khi lấy năm trừ 4 rồi chia cho 12: dư 0 là Tý, 1 là Sửu, cứ thế tới 11 là Hợi. Ví dụ năm 1990: chữ số cuối 0 là Canh; 1990 trừ 4 bằng 1986, chia 12 dư 6, là Ngọ; vậy là Canh Ngọ.
Điều kiện quan trọng là năm dương lịch đưa vào phép tính phải là năm âm lịch có ngày sinh. Người sinh trong tháng Một, tháng Hai dương lịch cần kiểm xem đã qua Tết chưa; nếu chưa, dùng năm dương lịch trước đó.
Bảng Triệt theo can năm sinh
Mười can chia thành năm cặp, mỗi cặp ứng với một cặp cung. Triệt đặt ở ranh giới giữa hai cung ấy trên lá số.
| Can năm sinh | Triệt ở cặp cung |
|---|---|
| Giáp, Kỷ | Thân – Dậu |
| Ất, Canh | Ngọ – Mùi |
| Bính, Tân | Thìn – Tỵ |
| Đinh, Nhâm | Dần – Mão |
| Mậu, Quý | Tý – Sửu |
Năm cặp cung của Triệt là Thân – Dậu, Ngọ – Mùi, Thìn – Tỵ, Dần – Mão, Tý – Sửu. Đi theo thứ tự can Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, cặp cung lùi đều mỗi lần hai cung, từ Thân – Dậu về tới Tý – Sửu. Triệt không bao giờ rơi vào Tuất – Hợi, và cũng không bao giờ rơi vào một cặp "lệch" như Dậu – Tuất.
Cặp can trong mỗi hàng là hai can cách nhau năm vị trí: Giáp với Kỷ, Ất với Canh, Bính với Tân, Đinh với Nhâm, Mậu với Quý. Cách ghép này cũng gặp ở nhiều bảng khác của lịch can chi, nên quen một lần là dùng được nhiều chỗ.
Bảng Tuần theo tuần giáp của năm sinh
Vòng 60 năm can chi chia thành sáu tuần, mỗi tuần mười năm, bắt đầu bằng một năm can Giáp. Mười năm của một tuần dùng mười chi, còn thừa ra hai chi; Tuần đặt ở cặp cung mang hai chi thừa ấy.
| Tuần | Mười năm trong tuần | Tuần ở cặp cung |
|---|---|---|
| Tuần Giáp Tý | Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu | Tuất – Hợi |
| Tuần Giáp Tuất | Giáp Tuất, Ất Hợi, Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Thìn, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý Mùi | Thân – Dậu |
| Tuần Giáp Thân | Giáp Thân, Ất Dậu, Bính Tuất, Đinh Hợi, Mậu Tý, Kỷ Sửu, Canh Dần, Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tỵ | Ngọ – Mùi |
| Tuần Giáp Ngọ | Giáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tuất, Kỷ Hợi, Canh Tý, Tân Sửu, Nhâm Dần, Quý Mão | Thìn – Tỵ |
| Tuần Giáp Thìn | Giáp Thìn, Ất Tỵ, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi, Nhâm Tý, Quý Sửu | Dần – Mão |
| Tuần Giáp Dần | Giáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tỵ, Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi | Tý – Sửu |
Tự suy ra hai bảng từ vòng 60 hoa giáp
Không cần thuộc hai bảng. Nếu nhớ thứ tự mười can và mười hai chi, bạn tự suy ra được cả Tuần lẫn Triệt cho bất kỳ năm nào.
- Với Tuần: từ năm sinh, lùi dần về năm can Giáp gần nhất, cũng là năm mở đầu tuần. Ví dụ năm Đinh Mão lùi ba năm về Giáp Tý.
- Từ chi của năm Giáp ấy, đếm tiếp mười chi liên tiếp; hai chi thứ mười một và mười hai chính là cặp cung của Tuần. Với tuần Giáp Tý, mười năm dùng Tý tới Dậu, thừa Tuất và Hợi.
- Với Triệt: lấy can năm sinh, tìm can ghép cặp cách năm vị trí, rồi tra năm cặp cung. Nếu muốn suy mà không tra, có thể dùng một cách nhớ tự kiểm được: khởi can cho giờ Tý theo can của năm (Giáp Kỷ khởi Giáp Tý, Ất Canh khởi Bính Tý, Bính Tân khởi Mậu Tý, Đinh Nhâm khởi Canh Tý, Mậu Quý khởi Nhâm Tý), đếm tiếp can chi theo mười hai giờ; hai giờ mang can Nhâm và Quý rơi đúng vào cặp cung của Triệt.
- Kiểm lại kết quả bằng bảng ở trên. Nếu suy và tra cho hai kết quả khác nhau, thường là do lùi sai về năm Giáp hoặc đếm hụt một chi.
Cách nhớ thứ ba dựa vào phép khởi can giờ quen thuộc của lịch can chi. Đây chỉ là một quan hệ số học giúp nhớ và tự kiểm, đã đối chiếu đủ năm cặp can, không phải lời giải thích về nguồn gốc của sao Triệt.
Phép thử nhanh và lỗi hay gặp khi vẽ Tuần Triệt
Tuần Triệt không phải sao đứng trong một cung mà là dấu đặt trên ranh giới giữa hai cung, nên lỗi thường đến từ cách vẽ hơn là cách tính.
- Cặp cung của Tuần và của Triệt luôn là hai cung liền nhau, cung đầu mang chi dương (Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất), cung sau mang chi âm. Một lá số đặt Triệt giữa Dậu và Tuất là đã sai.
- Tuần và Triệt có thể trùng một cặp cung. Ví dụ giả định: năm Nhâm Tý thuộc tuần Giáp Thìn nên Tuần ở Dần – Mão, can Nhâm cho Triệt cũng ở Dần – Mão. Trùng như vậy là đúng quy tắc, không phải lỗi.
- Can chi năm phải là của năm âm lịch. Người sinh trước Tết lấy nhầm năm dương lịch sẽ sai cả Tuần lẫn Triệt cùng lúc, vì cả can lẫn tuần đều đổi.
- Trên lá số vẽ bằng tay, dấu Tuần Triệt dễ bị đặt lệch về hẳn một cung. Khi chép lại, nên ghi rõ "Triệt: Thân – Dậu" bằng chữ ở ô giữa thay vì chỉ dựa vào vị trí của ký hiệu.
- Một số lá số chỉ ghi chữ "Tuần" hoặc "Triệt" mà không ghi rõ là Tuần hay Triệt của năm sinh hay của một năm xem hạn. Bài này chỉ nói về Tuần Triệt của năm sinh; các loại khác có quy tắc riêng.
Vì Tuần Triệt chỉ phụ thuộc can chi năm, mọi người sinh cùng năm âm lịch có Tuần Triệt ở cùng chỗ. Kiểm chéo với Lộc Tồn, Khôi Việt là cách nhanh để biết lá số dùng nhất quán một can chi năm hay không.
Ví dụ giả định: tra hai năm sinh từ đầu đến cuối
Ví dụ giả định thứ nhất: năm Canh Ngọ. Lùi về năm Giáp gần nhất: Kỷ Tỵ, Mậu Thìn, Đinh Mão, Bính Dần, Ất Sửu, Giáp Tý. Vậy năm này thuộc tuần Giáp Tý, Tuần ở Tuất – Hợi. Can Canh ghép với Ất, Triệt ở Ngọ – Mùi. Theo cách nhớ khởi can giờ: Ất Canh khởi Bính Tý, rồi Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Thìn, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý Mùi; hai giờ can Nhâm, Quý ở Ngọ và Mùi, khớp với bảng.
Ví dụ giả định thứ hai: năm Quý Hợi. Lùi về Giáp: Nhâm Tuất, Tân Dậu, Canh Thân, Kỷ Mùi, Mậu Ngọ, Đinh Tỵ, Bính Thìn, Ất Mão, Giáp Dần. Tuần Giáp Dần dùng mười chi từ Dần tới Hợi, thừa Tý và Sửu, vậy Tuần ở Tý – Sửu. Can Quý ghép với Mậu, Triệt cũng ở Tý – Sửu. Đây lại là một năm Tuần Triệt trùng chỗ.
Hai ví dụ cho thấy lùi về năm Giáp là bước dễ sai nhất, vì phải đếm ngược cả can lẫn chi. Mẹo đơn giản là đếm ngược can trước cho tới Giáp, đếm bao nhiêu bước thì lùi chi đúng bấy nhiêu bước.
Bảng ngắn, lời luận vẫn cần dè dặt
Tuần Triệt là chỗ nhiều lời luận đặt nặng, thường với những cách nói như "bị Triệt", "gặp Tuần". Nhưng như hai bảng cho thấy, vị trí của chúng là chung cho cả một năm sinh, và chỉ là kết quả đếm trên vòng 60 năm. Lập đúng lá số không làm lời đoán thành có bằng chứng; chưa có nghiên cứu nào cho thấy vị trí Tuần Triệt dự đoán được điều gì.
Giá trị của bảng là giúp lá số được vẽ đúng và nhất quán, để khi đem so hai lá số, bạn biết ngay khác biệt nằm ở dữ liệu hay ở quy ước. Nếu bạn lập lá số trên AI Huyền Học, có thể dùng hai bảng này để kiểm dấu Tuần Triệt trong vài giây, trước khi đọc bất kỳ phần luận nào.
Với người viết công cụ lập lá số, hai bảng này là bộ thử gọn: sáu tuần, năm cặp can, cộng hai ca Tuần Triệt trùng chỗ để chắc rằng chương trình vẽ được hai dấu chồng lên nhau mà không làm mất dấu nào.
Câu hỏi thường gặp
Triệt an theo can hay chi năm sinh?
Triệt an theo can năm sinh âm lịch. Mười can chia năm cặp: Giáp Kỷ ở Thân – Dậu, Ất Canh ở Ngọ – Mùi, Bính Tân ở Thìn – Tỵ, Đinh Nhâm ở Dần – Mão, Mậu Quý ở Tý – Sửu.
Tuần an theo quy tắc nào?
Tuần an theo tuần giáp chứa năm sinh trong vòng 60 hoa giáp. Mỗi tuần mười năm dùng mười chi, thừa hai chi; Tuần đặt ở cặp cung mang hai chi thừa đó. Ví dụ tuần Giáp Tý thừa Tuất, Hợi nên Tuần ở Tuất – Hợi.
Tuần và Triệt trùng một cặp cung có phải lỗi không?
Không. Một số năm có Tuần và Triệt cùng một cặp cung, ví dụ năm Nhâm Tý hay năm Quý Hợi. Đó là kết quả đúng của quy tắc, không phải lá số vẽ nhầm.
Vì sao Triệt không bao giờ ở Tuất – Hợi?
Vì năm cặp cung của Triệt là Thân – Dậu, Ngọ – Mùi, Thìn – Tỵ, Dần – Mão, Tý – Sửu. Cặp Tuất – Hợi không có trong bảng, nên lá số nào đặt Triệt ở đó là đã sai.
Sinh trước Tết thì Tuần Triệt tính theo năm nào?
Tính theo năm âm lịch có ngày sinh. Người sinh trước Tết thuộc năm âm lịch cũ, nên phải đổi ngày sinh sang âm lịch trước rồi mới lấy can chi để tra Tuần Triệt.
Có thể tự suy Tuần mà không cần bảng không?
Có. Từ năm sinh, lùi về năm can Giáp gần nhất, rồi từ chi của năm Giáp ấy đếm tiếp mười chi; hai chi còn lại là cặp cung của Tuần. Mỗi lần suy nên đối chiếu lại với bảng để tránh đếm hụt.