Lộc Tồn, Kình Dương và Đà La là ba sao an theo can của năm sinh âm lịch, và luôn đi thành một cụm: Lộc Tồn ở giữa, Kình Dương đứng ngay cung phía trước theo chiều thuận, Đà La đứng ngay cung phía sau. Mười can cho mười hàng, nhưng chỉ có tám vị trí khác nhau của Lộc Tồn, vì Mậu đi chung với Bính và Kỷ đi chung với Đinh.
Bài đưa bảng tra đầy đủ, quy tắc để tự dựng lại bảng mà không cần thuộc lòng, ba phép thử giúp bạn phát hiện ô chép sai, và những chỗ dễ nhầm nhất khi đưa can năm vào bảng. Bài không bàn ý nghĩa của ba sao này trên từng cung; nếu cần phần luận, nên đọc ở nguồn chuyên về luận giải và đọc với tâm thế tỉnh táo.
Vì sao ba sao này đi chung một bảng
Trong tử vi đẩu số, Lộc Tồn là sao được an trực tiếp từ can năm sinh. Kình Dương và Đà La không có quy tắc riêng; chúng được đặt theo Lộc Tồn, mỗi sao cách đúng một cung về hai phía. Vì thế, chỉ cần biết Lộc Tồn, hai sao kia là việc đếm một bước. Gộp ba sao vào một bảng giúp người tra không phải lật hai trang và tránh trường hợp lấy Lộc Tồn ở bảng này, Kình Đà ở bảng khác do một người khác soạn.
Dữ kiện duy nhất cần đưa vào là can năm sinh âm lịch, tức chữ đầu trong cặp can chi của năm như Giáp, Ất, Bính. Can năm không phụ thuộc giới tính, giờ sinh hay tháng sinh. Điều này làm bảng rất ổn định: hai người sinh cùng một năm âm lịch luôn có Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La ở cùng ba cung, bất kể nam hay nữ.
Lộc Tồn còn là điểm khởi của vòng Bác Sĩ, một vòng mười hai sao. Vòng này đi thuận hay nghịch tùy âm dương và giới tính của người có lá số, nên nó thuộc một bảng khác. Riêng vị trí của Lộc Tồn, Kình Dương và Đà La thì không đổi theo giới tính, và đó là phạm vi của bài này.
Bảng tra Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La theo mười can
Tìm hàng theo can năm sinh âm lịch. Ba cột cho ba cung tương ứng. Bảng được sinh từ quy tắc ở mục sau và kiểm lại từng ô bằng cách đếm tay.
| Can năm sinh | Lộc Tồn | Kình Dương (tiến 1 cung) | Đà La (lùi 1 cung) |
|---|---|---|---|
| Giáp | Dần | Mão | Sửu |
| Ất | Mão | Thìn | Dần |
| Bính | Tỵ | Ngọ | Thìn |
| Đinh | Ngọ | Mùi | Tỵ |
| Mậu | Tỵ | Ngọ | Thìn |
| Kỷ | Ngọ | Mùi | Tỵ |
| Canh | Thân | Dậu | Mùi |
| Tân | Dậu | Tuất | Thân |
| Nhâm | Hợi | Tý | Tuất |
| Quý | Tý | Sửu | Hợi |
Hai cặp hàng trùng nhau hoàn toàn: Bính với Mậu, Đinh với Kỷ. Đây không phải lỗi chép mà là quy tắc, và cũng là điểm đầu tiên nên kiểm khi đối chiếu một bảng in. Bảng nào cho Mậu một vị trí khác Bính là đã theo một quy ước khác, hoặc in nhầm.
Cũng nên để ý rằng bảng chỉ dùng tám trong mười hai cung cho Lộc Tồn. Bốn cung còn lại là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi không bao giờ có Lộc Tồn; đây là cơ sở của phép thử thứ nhất ở mục dưới. Người lập công cụ có thể dùng chính tính chất này làm một dòng kiểm tự động trong chương trình.
Quy tắc để tự dựng lại bảng không cần thuộc lòng
Lộc Tồn trùng với "lộc" của mười can. Vị trí Lộc Tồn trùng với bảng mười can lộc quen thuộc của mệnh lý phương Đông: Giáp lộc ở Dần, Ất ở Mão, Bính và Mậu ở Tỵ, Đinh và Kỷ ở Ngọ, Canh ở Thân, Tân ở Dậu, Nhâm ở Hợi, Quý ở Tý. Ai đã quen bảng này trong bát tự thì không cần học thêm gì cho Lộc Tồn.
Nhóm theo hành của can. Giáp Ất thuộc Mộc, Lộc ở Dần Mão là hai cung Mộc. Canh Tân thuộc Kim, Lộc ở Thân Dậu là hai cung Kim. Nhâm Quý thuộc Thủy, Lộc ở Hợi Tý là hai cung Thủy. Bính Đinh thuộc Hỏa, Lộc ở Tỵ Ngọ là hai cung Hỏa. Riêng Mậu Kỷ thuộc Thổ không có cặp cung Thổ liền nhau nên đi theo Bính Đinh. Cách nhớ theo hành giúp dựng lại tám trong mười hàng chỉ trong một hơi.
Kình tiến, Đà lùi. Từ Lộc Tồn, tiến một cung theo chiều Tý → Sửu → Dần là Kình Dương, lùi một cung là Đà La. Quy tắc này không đổi theo giới tính hay âm dương của năm sinh.
Can lấy theo năm âm lịch. Can năm phải là can của năm âm lịch có ngày sinh, tính từ mùng Một Tết. Người sinh vào tháng Một, tháng Hai dương lịch nhưng trước Tết thì can năm là can của năm trước.
Ba phép thử nhanh trên một lá số đã lập
Từ bảng trên rút ra ba tính chất mà mọi lá số đúng quy tắc đều thỏa. Chúng cho phép kiểm một lá số trong vài giây mà không cần biết năm sinh.
- Lộc Tồn không bao giờ đứng ở bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Lá số nào ghi Lộc Tồn ở một trong bốn cung này là đã sai.
- Kình Dương không bao giờ đứng ở bốn cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi.
- Đà La không bao giờ đứng ở bốn cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
- Kình Dương và Đà La luôn cách nhau đúng hai cung và kẹp Lộc Tồn ở giữa. Nếu giữa hai sao này là một cung không có Lộc Tồn, người chép đã đặt nhầm một trong ba sao.
- Kình Dương luôn nằm ở cung ngay sau Lộc Tồn theo chiều thuận. Nếu Kình đứng phía trước theo chiều nghịch, tức đổi chỗ với Đà, thì người lập đã lẫn chiều.
Ba tính chất đầu suy thẳng từ bảng: tám vị trí của Lộc Tồn đều là cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu hoặc Dần, Thân, Tỵ, Hợi; dịch tất cả đi một cung về phía trước hay phía sau sẽ ra các nhóm cung mà Kình và Đà có thể đứng. Bạn có thể tự kiểm lại bằng cách đếm trên bảng.
Ví dụ giả định: tra và kiểm hai năm sinh
Ví dụ giả định thứ nhất: một người sinh năm âm lịch có can Mậu. Theo bảng, Lộc Tồn ở Tỵ, Kình Dương ở Ngọ, Đà La ở Thìn. Kiểm bằng quy tắc: Mậu đi theo Bính, Bính thuộc Hỏa nên Lộc ở cung Hỏa đầu tiên là Tỵ; tiến một cung là Ngọ, lùi một cung là Thìn. Kiểm bằng phép thử: Lộc Tồn ở Tỵ không thuộc nhóm Thìn Tuất Sửu Mùi, Kình ở Ngọ không thuộc Dần Thân Tỵ Hợi, Đà ở Thìn không thuộc Tý Ngọ Mão Dậu. Mọi điều kiện đều thỏa.
Ví dụ giả định thứ hai: can Quý. Lộc Tồn ở Tý, Kình Dương ở Sửu, Đà La ở Hợi. Quý thuộc Thủy, cặp cung Thủy là Hợi và Tý; can âm lấy cung thứ hai của cặp, tức Tý. Để ý rằng với can Quý, Đà La nằm ở Hợi, tức đã vòng qua điểm nối giữa Hợi và Tý trên vòng mười hai cung. Đây là chỗ người mới học hay lúng túng vì quên rằng vòng cung là một vòng tròn khép kín.
Nếu bạn đang đối chiếu một lá số do phần mềm lập, chỉ cần đọc can năm ở ô thông tin giữa lá số, tra một hàng của bảng và nhìn ba cung tương ứng. Khớp thì phần này đúng; không khớp thì kiểm lại xem phần mềm có lấy can theo năm dương lịch hay không.
Những chỗ dễ nhầm khi đưa can năm vào bảng
Chỗ nhầm phổ biến nhất không nằm trong bảng mà ở dữ kiện đưa vào. Người sinh tháng Giêng hoặc tháng Hai dương lịch, trước Tết Nguyên Đán, thuộc năm âm lịch cũ. Ví dụ giả định: một người sinh đầu tháng Một dương lịch năm 1990 thì vẫn thuộc năm Kỷ Tỵ, can Kỷ, chưa sang năm Canh Ngọ. Tra theo can Canh sẽ đặt Lộc Tồn ở Thân thay vì Ngọ, lệch tới hai cung, kéo theo cả Kình, Đà và vòng Bác Sĩ.
Chỗ nhầm thứ hai là lẫn can năm với can của cung Mệnh hoặc can của ngày sinh. Một số lá số ghi đủ can chi của năm, tháng, ngày, giờ ở ô giữa, và người tra có thể đọc nhầm dòng. Chỉ can của năm mới dùng cho bảng này.
Chỗ nhầm thứ ba là lẫn chiều Kình và Đà, nhất là khi lá số được vẽ theo kiểu khác nhau: có bản đặt cung Tý ở góc dưới bên phải, có bản vẽ vòng tròn. Chiều thuận luôn là Tý → Sửu → Dần, không phụ thuộc cách vẽ. Khi chép lá số từ dạng này sang dạng khác, nên đánh dấu chiều thuận trước rồi mới đặt sao.
Chỗ nhầm thứ tư hiếm hơn nhưng có thật: một số bảng chép tay ghi Mậu ở Thìn hoặc Kỷ ở Mùi vì người chép suy luận "can Thổ thì ở cung Thổ". Suy luận này nghe hợp lý nhưng không đúng quy tắc an Lộc Tồn; phép thử thứ nhất ở mục trên sẽ bắt được ngay.
Tra đúng ba sao vẫn chưa phải là đoán đúng
Bảng này đúng theo nghĩa: nó khớp quy tắc mà các sách tử vi phổ biến dùng chung, và ở bước an Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La, các sách lưu hành ở Việt Nam hầu như không có dị bản. Hai người cùng quy tắc, cùng can năm sẽ ra ba cung giống hệt nhau.
Nhưng lập đúng lá số không làm lời đoán thành có bằng chứng. Tên gọi Kình Dương, Đà La nghe nặng nề, và nhiều người đọc lá số thấy hai sao này ở cung Mệnh là lo. Cần nhớ rằng ai cũng có đủ hai sao này trên lá số, chỉ khác vị trí, và chưa có nghiên cứu nào cho thấy vị trí của chúng dự đoán được điều gì về đời người. Bảng tra giúp bạn biết lá số được lập đúng quy ước; nó không phải căn cứ để lo âu hay để chi tiền "hóa giải".
Nếu bạn lập lá số trên AI Huyền Học hay bất kỳ công cụ nào, có thể dùng bảng này để kiểm ba sao trong vài giây trước khi đọc tiếp các phần khác.
Câu hỏi thường gặp
Lộc Tồn an theo can hay theo chi năm sinh?
Lộc Tồn an theo can năm sinh âm lịch. Mười can cho tám vị trí vì Mậu đi chung với Bính ở Tỵ và Kỷ đi chung với Đinh ở Ngọ. Kình Dương và Đà La đặt theo Lộc Tồn nên cũng chỉ phụ thuộc can năm.
Kình Dương đứng trước hay sau Lộc Tồn?
Kình Dương đứng ngay cung phía trước Lộc Tồn theo chiều thuận Tý → Sửu → Dần, Đà La đứng ngay cung phía sau. Quy tắc này không đổi theo giới tính hay âm dương năm sinh.
Nam và nữ cùng năm sinh có Lộc Tồn khác nhau không?
Không. Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La chỉ phụ thuộc can năm. Thứ khác nhau giữa nam và nữ cùng năm là chiều của vòng Bác Sĩ khởi từ Lộc Tồn, cùng nhiều yếu tố khác như chiều đại vận.
Lá số ghi Lộc Tồn ở cung Thìn có đúng không?
Theo quy tắc an Lộc Tồn phổ biến, Lộc Tồn không bao giờ ở Thìn, Tuất, Sửu hay Mùi. Lá số ghi như vậy rất có thể đã chép sai hoặc dùng sai can năm, nên kiểm lại năm âm lịch và bảng tra trước khi đọc tiếp.
Sinh trước Tết thì lấy can năm nào?
Lấy can của năm âm lịch cũ, vì năm âm lịch bắt đầu từ mùng Một Tết. Người sinh tháng Một hoặc tháng Hai dương lịch cần đổi ngày sinh sang âm lịch trước, rồi mới lấy can năm để tra bảng.
Có thể dùng bảng này để kiểm phần mềm lập lá số không?
Có. Cho phần mềm lập mười lá số giả định với mười can năm khác nhau, rồi so ba cung với bảng. Chú ý thêm các ngày sinh sát Tết để kiểm phần mềm có lấy can theo năm âm lịch hay không.