Mười bốn chính tinh trên lá số tử vi chỉ có mười hai cách sắp xếp, ứng với mười hai cung mà sao Tử Vi có thể đứng. Biết Tử Vi ở đâu, sáu sao chòm Tử Vi đi theo những khoảng cách cố định, sao Thiên Phủ đứng ở vị trí đối xứng với Tử Vi qua trục Dần – Thân, rồi tám sao chòm Thiên Phủ lại đi theo khoảng cách cố định của chúng. Vì vậy cả mười bốn sao gói gọn trong hai bảng mười hai hàng.
Bài này đưa hai bảng ấy, dựng lại từ quy tắc và đối chiếu từng ô, cùng các phép thử giúp bạn kiểm một lá số trong vài giây: Tử Vi và Thiên Phủ có thật sự đối xứng không, các cặp sao đồng cung quen thuộc có đúng chỗ không, cung nào phải trống chính tinh. Bài không bàn ý nghĩa sao hay cách cục; chỉ bàn chuyện sao đứng đúng hay sai chỗ.
Vì sao chỉ cần biết vị trí sao Tử Vi
Trong cách an sao của tử vi đẩu số, chỉ riêng sao Tử Vi được tính trực tiếp từ dữ kiện sinh, cụ thể là cục và ngày âm lịch. Mười ba chính tinh còn lại không cần thêm dữ kiện nào; chúng được đặt theo vị trí tương đối. Điều này có hai hệ quả thực tế. Thứ nhất, nếu bạn đã kiểm đúng ô Tử Vi, phần còn lại của bộ khung chỉ là việc đếm. Thứ hai, nếu một lá số có Tử Vi đúng chỗ mà một chính tinh khác lại lệch, lỗi chắc chắn nằm ở khâu chép hoặc in, không thể đổ cho dữ kiện sinh.
Mười bốn sao chia hai chòm. Chòm Tử Vi gồm sáu sao, đếm ngược chiều kim đồng hồ trên lá số tính từ Tử Vi, tức theo chiều nghịch Tý ← Sửu ← Dần. Chòm Thiên Phủ gồm tám sao, đếm theo chiều thuận tính từ Thiên Phủ. Hai chòm đi ngược chiều nhau, và điểm nối giữa chúng là quan hệ đối xứng giữa Tử Vi và Thiên Phủ.
Nói "đếm" ở đây là đếm cung trên vòng mười hai cung cố định của lá số: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, rồi quay lại Tý. Thuận là đi theo thứ tự đó, nghịch là đi ngược lại. Mọi phép tính trong bài đều là cộng trừ số cung trên vòng này.
Bảng chòm Tử Vi: sáu sao đếm nghịch và vị trí Thiên Phủ
Mỗi hàng ứng với một cung có sao Tử Vi. Từ Tử Vi lùi một cung là Thiên Cơ, bỏ trống một cung, lùi tiếp là Thái Dương, rồi Vũ Khúc, rồi Thiên Đồng, bỏ trống hai cung, tới Liêm Trinh. Cột cuối là cung của Thiên Phủ.
| Tử Vi | Thiên Cơ | Thái Dương | Vũ Khúc | Thiên Đồng | Liêm Trinh | Thiên Phủ |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Tý | Hợi | Dậu | Thân | Mùi | Thìn | Thìn |
| Sửu | Tý | Tuất | Dậu | Thân | Tỵ | Mão |
| Dần | Sửu | Hợi | Tuất | Dậu | Ngọ | Dần |
| Mão | Dần | Tý | Hợi | Tuất | Mùi | Sửu |
| Thìn | Mão | Sửu | Tý | Hợi | Thân | Tý |
| Tỵ | Thìn | Dần | Sửu | Tý | Dậu | Hợi |
| Ngọ | Tỵ | Mão | Dần | Sửu | Tuất | Tuất |
| Mùi | Ngọ | Thìn | Mão | Dần | Hợi | Dậu |
| Thân | Mùi | Tỵ | Thìn | Mão | Tý | Thân |
| Dậu | Thân | Ngọ | Tỵ | Thìn | Sửu | Mùi |
| Tuất | Dậu | Mùi | Ngọ | Tỵ | Dần | Ngọ |
| Hợi | Tuất | Thân | Mùi | Ngọ | Mão | Tỵ |
Khoảng cách tính từ Tử Vi theo chiều nghịch: Thiên Cơ 1 cung, Thái Dương 3, Vũ Khúc 4, Thiên Đồng 5, Liêm Trinh 8. Nhớ dãy số 1 – 3 – 4 – 5 – 8 là đủ để dựng lại cả bảng.
Bảng chòm Thiên Phủ: tám sao đếm thuận
Từ Thiên Phủ tiến một cung là Thái Âm, rồi Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát liên tiếp, bỏ trống ba cung, tới Phá Quân. Cột đầu nhắc lại vị trí Tử Vi để dò hàng.
| Tử Vi | Thiên Phủ | Thái Âm | Tham Lang | Cự Môn | Thiên Tướng | Thiên Lương | Thất Sát | Phá Quân |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tý | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Dần |
| Sửu | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Sửu |
| Dần | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Tý |
| Mão | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Hợi |
| Thìn | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Tuất |
| Tỵ | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Dậu |
| Ngọ | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Thìn | Thân |
| Mùi | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Mão | Mùi |
| Thân | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Dần | Ngọ |
| Dậu | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu | Tỵ |
| Tuất | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Thìn |
| Hợi | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Mão |
Khoảng cách tính từ Thiên Phủ theo chiều thuận: Thái Âm 1, Tham Lang 2, Cự Môn 3, Thiên Tướng 4, Thiên Lương 5, Thất Sát 6, Phá Quân 10. Dãy cần nhớ là 1 – 2 – 3 – 4 – 5 – 6 – 10.
Phép đối xứng Dần – Thân: kiểm Thiên Phủ trong ba giây
Quy tắc. Thiên Phủ là ảnh phản chiếu của Tử Vi qua đường thẳng nối cung Dần và cung Thân. Tử Vi ở Dần thì Thiên Phủ cũng ở Dần; Tử Vi ở Thân thì Thiên Phủ cũng ở Thân. Ở mọi cung khác, hai sao đứng cách đều trục này về hai phía.
Các cặp cần nhớ. Tử Vi ở Tý thì Thiên Phủ ở Thìn; Sửu đi với Mão; Mão đi với Sửu; Thìn đi với Tý; Tỵ đi với Hợi; Ngọ đi với Tuất; Mùi đi với Dậu; Dậu đi với Mùi; Tuất đi với Ngọ; Hợi đi với Tỵ. Cặp nào cũng đổi chiều được, Tử Vi và Thiên Phủ hoán vị vẫn đúng.
Cách tính bằng số. Đánh số Tý là 0, Sửu là 1, cứ thế tới Hợi là 11. Vị trí Thiên Phủ bằng 4 trừ vị trí Tử Vi, nếu âm thì cộng 12. Ví dụ Tử Vi ở Ngọ là 6, lấy 4 trừ 6 được âm 2, cộng 12 được 10, tức Tuất.
Dấu hiệu sai. Nếu một lá số đặt Thiên Phủ đối cung với Tử Vi, tức cách sáu cung, hoặc đặt cùng cung ở những vị trí ngoài Dần và Thân, thì người lập đã nhầm quy tắc. Người mới học rất dễ nhớ lẫn "đối xứng" thành "đối cung", nên đây là chỗ đáng kiểm đầu tiên.
Các cặp đồng cung và cung trống: phép thử thứ hai
Từ hai bảng trên rút ra được những điểm mà bất kỳ lá số đúng quy tắc nào cũng phải thỏa. Kiểm chúng là cách nhanh để phát hiện lá số chép sai mà không cần tính lại từ đầu.
- Tử Vi ở Dần hoặc Thân thì đồng cung với Thiên Phủ.
- Tử Vi ở Sửu hoặc Mùi thì đồng cung với Phá Quân.
- Tử Vi ở Mão hoặc Dậu thì đồng cung với Tham Lang.
- Tử Vi ở Thìn hoặc Tuất thì đồng cung với Thiên Tướng.
- Tử Vi ở Tỵ hoặc Hợi thì đồng cung với Thất Sát.
- Tử Vi ở Tý hoặc Ngọ thì đứng một mình, không có chính tinh nào khác cùng cung.
- Số cung không có chính tinh, gọi là vô chính diệu, phụ thuộc vị trí Tử Vi: Tử Vi ở Dần hoặc Thân thì mười bốn sao phủ kín cả mười hai cung, không có cung trống; Tử Vi ở Tỵ hoặc Hợi thì có bốn cung trống; Tử Vi ở tám cung còn lại thì có đúng hai cung trống.
Đếm số cung trống là phép kiểm hữu ích: lá số có Tử Vi ở Ngọ mà lại hiện ba cung trống, hay Tử Vi ở Dần mà vẫn có cung vô chính diệu, là lá số chép sai. Cũng nên cộng tổng số chính tinh trên lá số: phải ra đúng mười bốn, không ra là thiếu hoặc thừa một sao do chép.
Lỗi in và lỗi chép hay gặp ở hai bảng này
Lỗi phổ biến nhất là lẫn chiều. Người chép quen tay đếm thuận cho cả hai chòm, nên Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc bị đặt về phía trước Tử Vi thay vì phía sau. Kết quả là chòm Tử Vi bị lật ngược, nhưng khoảng cách giữa các sao vẫn đúng dãy 1 – 3 – 4 – 5 – 8, nên nhìn qua tưởng không sao. Phép thử nhanh: trên lá số đúng, đi theo chiều thuận từ Liêm Trinh sẽ gặp Thiên Đồng, Vũ Khúc, Thái Dương, Thiên Cơ rồi mới tới Tử Vi.
Lỗi thứ hai là quên khoảng trống. Có người đếm chòm Thiên Phủ liên tiếp tám cung, đặt Phá Quân ngay sau Thất Sát thay vì cách ba cung trống. Lỗi này để lại dấu vết rõ: Phá Quân trên lá số đúng luôn đối cung với Thiên Tướng, nên nếu thấy Phá Quân không đối diện Thiên Tướng thì đã đếm sai.
Lỗi thứ ba là cột bảng in bị trượt một hàng. Khi bảng in dài, một cột lệch xuống một dòng sẽ làm sao đó lệch đúng một cung so với các sao khác cùng hàng. Phép thử đồng cung ở mục trên bắt được phần lớn những lỗi này, vì các cặp đồng cung sẽ không còn khớp.
Đúng bộ khung chưa phải đúng lời luận
Mười bốn chính tinh đặt đúng chỗ là điều kiện cần để hai người cùng đọc một lá số. Nó bảo đảm bạn và người luận đang nhìn cùng một tờ giấy. Nó không bảo đảm rằng những gì người luận nói về tính cách hay vận hạn là có căn cứ; lập đúng lá số không làm lời đoán thành có bằng chứng, và chưa có nghiên cứu nào chứng minh tử vi dự đoán được đời người.
Giá trị thực tế của hai bảng này nằm ở chỗ khác: chúng cho bạn quyền tự kiểm. Khi nhận một lá số từ ai đó, bạn có thể mất một phút để xác nhận bộ khung có nhất quán không. Nếu không nhất quán, mọi lời luận dựa trên lá số đó đều đứng trên dữ liệu hỏng, và đó là lý do chính đáng để hỏi lại người lập, trước khi bàn đến chuyện tin hay không tin.
Người viết công cụ lập lá số có thể dùng hai bảng như bộ dữ liệu thử: cho chương trình chạy mười hai trường hợp Tử Vi, so từng cột với bảng. Sai một ô là biết ngay hàm đếm nào lệch chiều hay thiếu khoảng trống. Nên thử thêm hai ca biên là Tử Vi ở Dần và ở Thân, vì đó là hai hàng duy nhất Tử Vi và Thiên Phủ cùng cung; nhiều chương trình viết vội in hai sao chồng lên nhau sai thứ tự hoặc bỏ mất một sao ở đúng hai hàng này.
Với người tự học bằng tay, cách luyện hiệu quả là che hai bảng lại, chọn ngẫu nhiên một cung cho Tử Vi, tự đếm đủ mười bốn sao rồi mở bảng ra so. Làm vài lượt, dãy khoảng cách 1 – 3 – 4 – 5 – 8 và 1 – 2 – 3 – 4 – 5 – 6 – 10 sẽ thành phản xạ, và việc đọc một lá số lạ để tìm ô sai chỉ còn tính bằng giây.
Câu hỏi thường gặp
Sao Thiên Phủ an theo quy tắc nào?
Thiên Phủ đứng ở vị trí đối xứng với Tử Vi qua trục nối cung Dần và cung Thân. Đánh số Tý là 0 tới Hợi là 11, vị trí Thiên Phủ bằng 4 trừ vị trí Tử Vi, âm thì cộng 12. Tử Vi ở Dần hay Thân thì hai sao cùng cung.
Vì sao chòm Tử Vi đếm nghịch còn chòm Thiên Phủ đếm thuận?
Đó là quy ước an sao của tử vi đẩu số được các sách phổ biến dùng chung. Hai chòm đi ngược chiều nhau và nối với nhau qua quan hệ đối xứng Tử Vi – Thiên Phủ. Không có dị bản đáng kể ở bước này trong các sách lưu hành tại Việt Nam.
Làm sao biết lá số bị chép lật ngược chòm Tử Vi?
Trên lá số đúng, đi theo chiều thuận từ Liêm Trinh sẽ gặp Thiên Đồng, Vũ Khúc, Thái Dương, Thiên Cơ rồi tới Tử Vi. Nếu thứ tự ngược lại, tức Thiên Cơ đứng ngay phía trước Tử Vi theo chiều thuận, thì chòm đã bị đếm sai chiều.
Vô chính diệu có phải lỗi lá số không?
Không. Cung không có chính tinh là chuyện bình thường của quy tắc an sao. Tử Vi ở Dần hoặc Thân thì không có cung trống, ở Tỵ hoặc Hợi thì có bốn cung trống, ở các cung còn lại thì có hai. Số cung trống lệch khỏi con số này mới là dấu hiệu chép sai.
Tử Vi ở Tý thì có đồng cung với sao nào không?
Theo hai bảng, Tử Vi ở Tý hoặc Ngọ đứng một mình, không có chính tinh nào khác cùng cung. Thiên Phủ khi đó ở Thìn nếu Tử Vi ở Tý, và ở Tuất nếu Tử Vi ở Ngọ.
Có thể dùng hai bảng này để kiểm phần mềm lập lá số không?
Có. Cho phần mềm chạy đủ mười hai vị trí Tử Vi rồi so từng cột với bảng. Nếu khớp hết, hàm an chính tinh đúng quy tắc; nếu lệch, kiểm chiều đếm và các khoảng trống. Việc này chỉ kiểm quy tắc, không kiểm giá trị dự đoán của lá số.