Vòng 60 hoa giáp ghép mười can với mười hai chi thành sáu mươi năm, và cứ hai năm liền nhau, một năm dương một năm âm, dùng chung một tên nạp âm, nên cả vòng chỉ có ba mươi tên. Trên lá số tử vi, tên nạp âm của năm sinh thường được ghi ở ô giữa, cạnh dòng "Mệnh", và cũng là thứ người ta tra nhiều nhất.
Bài đưa bảng đủ ba mươi cặp, có cột năm dương lịch cho hai vòng 1924–1983 và 1984–2043, kèm cách dựng lại hành của mỗi cặp bằng một phép cộng số nhỏ để tự kiểm bảng in. Bài không giảng nghĩa triết học của nạp âm, không bàn tương sinh tương khắc giữa các mệnh; ở đây nạp âm chỉ là một ô dữ liệu trên lá số cần ghi cho đúng.
Nạp âm nằm ở đâu trên lá số và dùng vào việc gì
Trên phần lớn lá số tử vi kiểu Việt Nam, ô giữa ghi năm, tháng, ngày, giờ sinh bằng can chi, giới tính kèm âm dương, rồi tới hai dòng "Mệnh" và "Cục". Dòng Mệnh thường ghi tên nạp âm của năm sinh, như Hải Trung Kim hay Đại Lâm Mộc. Dòng Cục ghi ngũ hành cục, như Thủy nhị cục hay Hỏa lục cục.
Hai dòng này dễ bị lẫn. Mệnh trên ô giữa lấy theo nạp âm của can chi năm sinh, còn cục lấy theo nạp âm của can chi cung Mệnh trên lá số. Cùng một bảng nạp âm được dùng cho cả hai việc, nhưng đầu vào khác nhau. Mệnh và cục có thể trùng hành hoặc khác hành, cả hai đều bình thường; nhưng nếu người lập lấy luôn hành của năm sinh làm cục thì đó là lỗi, và lỗi này kéo theo sai vị trí sao Tử Vi cùng toàn bộ chính tinh.
Bài này chỉ đi vào bảng nạp âm như một bảng tra. Cách tìm cục từ cung Mệnh có quy trình riêng, gồm bước tính can cho từng cung; nếu bạn cần, hãy đọc phần đó ở tài liệu chuyên về an sao từng bước.
Bảng 30 cặp nạp âm của vòng 60 hoa giáp
Mỗi hàng là hai năm liền nhau dùng chung một nạp âm. Cột năm dương lịch ghi năm âm lịch tương ứng, tức năm bắt đầu từ Tết Nguyên Đán của năm dương lịch đó.
| Cặp can chi | Nạp âm | Hành | Năm (vòng 1924–1983) | Năm (vòng 1984–2043) |
|---|---|---|---|---|
| Giáp Tý, Ất Sửu | Hải Trung Kim | Kim | 1924, 1925 | 1984, 1985 |
| Bính Dần, Đinh Mão | Lư Trung Hỏa | Hỏa | 1926, 1927 | 1986, 1987 |
| Mậu Thìn, Kỷ Tỵ | Đại Lâm Mộc | Mộc | 1928, 1929 | 1988, 1989 |
| Canh Ngọ, Tân Mùi | Lộ Bàng Thổ | Thổ | 1930, 1931 | 1990, 1991 |
| Nhâm Thân, Quý Dậu | Kiếm Phong Kim | Kim | 1932, 1933 | 1992, 1993 |
| Giáp Tuất, Ất Hợi | Sơn Đầu Hỏa | Hỏa | 1934, 1935 | 1994, 1995 |
| Bính Tý, Đinh Sửu | Giản Hạ Thủy | Thủy | 1936, 1937 | 1996, 1997 |
| Mậu Dần, Kỷ Mão | Thành Đầu Thổ | Thổ | 1938, 1939 | 1998, 1999 |
| Canh Thìn, Tân Tỵ | Bạch Lạp Kim | Kim | 1940, 1941 | 2000, 2001 |
| Nhâm Ngọ, Quý Mùi | Dương Liễu Mộc | Mộc | 1942, 1943 | 2002, 2003 |
| Giáp Thân, Ất Dậu | Tuyền Trung Thủy | Thủy | 1944, 1945 | 2004, 2005 |
| Bính Tuất, Đinh Hợi | Ốc Thượng Thổ | Thổ | 1946, 1947 | 2006, 2007 |
| Mậu Tý, Kỷ Sửu | Tích Lịch Hỏa | Hỏa | 1948, 1949 | 2008, 2009 |
| Canh Dần, Tân Mão | Tùng Bách Mộc | Mộc | 1950, 1951 | 2010, 2011 |
| Nhâm Thìn, Quý Tỵ | Trường Lưu Thủy | Thủy | 1952, 1953 | 2012, 2013 |
| Giáp Ngọ, Ất Mùi | Sa Trung Kim | Kim | 1954, 1955 | 2014, 2015 |
| Bính Thân, Đinh Dậu | Sơn Hạ Hỏa | Hỏa | 1956, 1957 | 2016, 2017 |
| Mậu Tuất, Kỷ Hợi | Bình Địa Mộc | Mộc | 1958, 1959 | 2018, 2019 |
| Canh Tý, Tân Sửu | Bích Thượng Thổ | Thổ | 1960, 1961 | 2020, 2021 |
| Nhâm Dần, Quý Mão | Kim Bạch Kim | Kim | 1962, 1963 | 2022, 2023 |
| Giáp Thìn, Ất Tỵ | Phú Đăng Hỏa | Hỏa | 1964, 1965 | 2024, 2025 |
| Bính Ngọ, Đinh Mùi | Thiên Hà Thủy | Thủy | 1966, 1967 | 2026, 2027 |
| Mậu Thân, Kỷ Dậu | Đại Trạch Thổ | Thổ | 1968, 1969 | 2028, 2029 |
| Canh Tuất, Tân Hợi | Thoa Xuyến Kim | Kim | 1970, 1971 | 2030, 2031 |
| Nhâm Tý, Quý Sửu | Tang Đố Mộc | Mộc | 1972, 1973 | 2032, 2033 |
| Giáp Dần, Ất Mão | Đại Khê Thủy | Thủy | 1974, 1975 | 2034, 2035 |
| Bính Thìn, Đinh Tỵ | Sa Trung Thổ | Thổ | 1976, 1977 | 2036, 2037 |
| Mậu Ngọ, Kỷ Mùi | Thiên Thượng Hỏa | Hỏa | 1978, 1979 | 2038, 2039 |
| Canh Thân, Tân Dậu | Thạch Lựu Mộc | Mộc | 1980, 1981 | 2040, 2041 |
| Nhâm Tuất, Quý Hợi | Đại Hải Thủy | Thủy | 1982, 1983 | 2042, 2043 |
Vài tên có cách viết khác nhau giữa các sách và lịch: Phú Đăng Hỏa còn được viết Phúc Đăng Hỏa, Đại Trạch Thổ còn gặp dạng Đại Dịch Thổ, Tang Đố Mộc còn gặp dạng Tang Chá Mộc, Kim Bạch Kim còn gặp dạng Kim Bạc Kim. Các biến thể này chỉ khác chữ phiên âm, hành và cặp can chi không đổi.
Dựng lại hành của mỗi cặp bằng một phép cộng số
Không cần thuộc ba mươi tên để kiểm một bảng in. Có một cách tính hành của bất kỳ cặp can chi nào bằng phép cộng nhỏ, đã đối chiếu đủ ba mươi hàng của bảng trên.
- Cho can một con số: Giáp, Ất là 1; Bính, Đinh là 2; Mậu, Kỷ là 3; Canh, Tân là 4; Nhâm, Quý là 5.
- Cho chi một con số: Tý, Sửu, Ngọ, Mùi là 0; Dần, Mão, Thân, Dậu là 1; Thìn, Tỵ, Tuất, Hợi là 2.
- Cộng hai số. Nếu tổng lớn hơn 5 thì trừ đi 5.
- Đọc kết quả: 1 là Kim, 2 là Thủy, 3 là Hỏa, 4 là Thổ, 5 là Mộc.
Thử với Giáp Tý: 1 cộng 0 bằng 1, là Kim, khớp Hải Trung Kim. Thử với Mậu Thìn: 3 cộng 2 bằng 5, là Mộc, khớp Đại Lâm Mộc. Thử với Nhâm Thân: 5 cộng 1 bằng 6, trừ 5 còn 1, là Kim, khớp Kiếm Phong Kim. Phép cộng này cho ra hành, không cho ra tên; nhưng phần lớn lỗi in trong bảng nạp âm là lỗi hành, như ghi một cặp Hỏa thành Thổ, nên chỉ cần kiểm hành là bắt được.
Tính can chi năm từ năm dương lịch và lỗi hay gặp
Can theo chữ số cuối. Năm có chữ số cuối 4 là Giáp, 5 Ất, 6 Bính, 7 Đinh, 8 Mậu, 9 Kỷ, 0 Canh, 1 Tân, 2 Nhâm, 3 Quý. Ví dụ năm 1975 có chữ số cuối 5 nên can là Ất.
Chi theo số dư. Lấy năm trừ 4, chia cho 12, xem số dư: 0 là Tý, 1 Sửu, 2 Dần, 3 Mão, 4 Thìn, 5 Tỵ, 6 Ngọ, 7 Mùi, 8 Thân, 9 Dậu, 10 Tuất, 11 Hợi. Năm 1975 trừ 4 bằng 1971, chia 12 dư 3, là Mão. Vậy 1975 là Ất Mão, tra bảng ra Đại Khê Thủy.
Lỗi sinh trước Tết. Hai phép tính trên cho can chi của năm âm lịch bắt đầu trong năm dương lịch đó. Người sinh tháng Một hoặc tháng Hai dương lịch trước Tết thuộc năm âm lịch trước, nên phải lùi một năm. Đây là nguồn sai phổ biến nhất của dòng Mệnh trên lá số.
Lỗi đọc lệch hàng. Bảng ba mươi hàng dài, mắt dễ trượt một dòng. Phép cộng số ở mục trên giúp bắt lỗi này: tra xong, cộng lại can và chi, nếu hành không khớp thì đã đọc lệch.
Lỗi lẫn Mệnh với cục. Như đã nói, Mệnh lấy theo năm, cục lấy theo cung Mệnh. Hai thứ này có thể cùng hành hoặc khác hành; khác hành không phải lỗi.
Ví dụ giả định: kiểm dòng Mệnh trên một lá số
Ví dụ giả định: một lá số ghi ngày sinh dương lịch là một ngày giữa tháng Tám năm 1993, ô giữa ghi "Quý Dậu – Mệnh: Kiếm Phong Kim". Tính lại: chữ số cuối 3 là Quý; 1993 trừ 4 bằng 1989, chia 12 dư 9, là Dậu. Tháng Tám đã qua Tết nên năm âm lịch vẫn là Quý Dậu. Tra bảng, Nhâm Thân và Quý Dậu là Kiếm Phong Kim. Phép cộng: Quý là 5, Dậu là 1, tổng 6, trừ 5 còn 1, là Kim. Ba cách kiểm cùng cho một kết quả, dòng Mệnh đúng.
Ví dụ giả định khác: một lá số ghi sinh giữa tháng Một năm 1997 dương lịch, tức trước Tết, nhưng ô giữa ghi "Đinh Sửu – Giản Hạ Thủy". Năm 1997 dương lịch đúng là Đinh Sửu, nhưng người sinh trước Tết thuộc năm âm lịch Bính Tý. Tra bảng, Bính Tý và Đinh Sửu cùng là Giản Hạ Thủy, nên dòng Mệnh tình cờ không đổi. Tuy vậy can năm đã sai từ Bính sang Đinh, kéo theo Lộc Tồn, Khôi Việt, Tứ Hóa và Triệt đều lệch. Ví dụ này cho thấy dòng Mệnh đúng chưa chắc can chi năm đúng; phải kiểm từ ngày Tết.
Bảng tra đúng không phải lời phán về bản mệnh
Bảng nạp âm được dùng rộng rãi ngoài tử vi: trong lịch vạn niên, trong xem tuổi, trong chọn màu sắc theo mệnh. Ở mỗi chỗ, người ta gán thêm nhiều lời bình. Trong phạm vi bài này, nạp âm chỉ là một ô dữ liệu: cặp can chi nào ứng với tên gì, hành gì. Bảng chính xác giúp lá số được ghi đúng; nó không làm lời luận về "bản mệnh" thành có bằng chứng, và lập đúng lá số cũng không làm lời đoán thành có bằng chứng.
Với người viết công cụ, bảng ba mươi hàng kèm phép cộng số là một bộ thử gọn: chạy đủ sáu mươi năm của một vòng, so tên và hành với bảng; chạy thêm các ngày sinh sát Tết để chắc chương trình lấy can chi theo năm âm lịch chứ không theo năm dương lịch.
Nếu bạn gặp những lời khẳng định kiểu "mệnh này khắc mệnh kia nên không được làm việc nọ", nên nhớ rằng cả một năm sinh có chung một nạp âm, và chưa có nghiên cứu nào cho thấy nạp âm dự đoán được điều gì về một người cụ thể. Đọc như tư liệu văn hóa, giữ quyết định của mình cho các căn cứ thực tế.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao 60 năm mà chỉ có 30 tên nạp âm?
Vì cứ hai năm liền nhau trong vòng 60 hoa giáp, một năm can dương và một năm can âm, dùng chung một tên nạp âm. Ví dụ Giáp Tý và Ất Sửu cùng là Hải Trung Kim.
Năm 2027 là năm gì, nạp âm gì?
Năm âm lịch bắt đầu từ Tết năm 2027 có chữ số cuối 7 nên can là Đinh; 2027 trừ 4 chia 12 dư 7 nên chi là Mùi. Đinh Mùi cùng cặp với Bính Ngọ, nạp âm là Thiên Hà Thủy.
Mệnh trên lá số và cục có giống nhau không?
Không nhất thiết. Mệnh ở ô giữa lá số lấy theo nạp âm của can chi năm sinh, còn cục lấy theo nạp âm của can chi cung Mệnh. Hai thứ có thể khác hành, và khác hành không phải là lỗi.
Phú Đăng Hỏa và Phúc Đăng Hỏa có phải hai thứ khác nhau không?
Không. Đó là hai cách viết của cùng một nạp âm, ứng với Giáp Thìn và Ất Tỵ. Tương tự, Đại Trạch Thổ và Đại Dịch Thổ, Tang Đố Mộc và Tang Chá Mộc là các biến thể phiên âm.
Làm sao kiểm nhanh một bảng nạp âm in sẵn?
Dùng phép cộng số: can Giáp Ất là 1 tới Nhâm Quý là 5, chi Tý Sửu Ngọ Mùi là 0, Dần Mão Thân Dậu là 1, Thìn Tỵ Tuất Hợi là 2. Cộng lại, quá 5 thì trừ 5; 1 Kim, 2 Thủy, 3 Hỏa, 4 Thổ, 5 Mộc.
Sinh trước Tết thì tra nạp âm năm nào?
Tra theo năm âm lịch có ngày sinh, tức năm trước nếu chưa qua Tết. Có lúc hai năm cùng một cặp nạp âm nên dòng Mệnh không đổi, nhưng can chi năm vẫn khác, nên các sao an theo can, chi năm sẽ lệch.