TuViChinhXac.comTử Vi Chính Xác
Các bảng tra và cách tự dựng lại

Bảng tra các sao an theo chi năm sinh: 11 sao, 12 hàng và quy tắc tự dựng lại

Thiên Mã, Đào Hoa, Hoa Cái, Cô Thần, Quả Tú, Hồng Loan, Thiên Hỷ, Long Trì, Phượng Các, Khốc, Hư gom trong hai bảng theo chi năm sinh, kèm phép kiểm.

Wide shot of a village communal yard in Bac Ninh at dusk, twelve wooden stools arranged in a circle on brick ground, a child walking past, no faces visible

Một nhóm lớn phụ tinh trên lá số tử vi chỉ phụ thuộc chi của năm sinh âm lịch, nên có thể gom cả nhóm vào hai bảng mười hai hàng. Bảng thứ nhất gồm các sao an theo nhóm chi: Thiên Mã, Đào Hoa, Hoa Cái theo nhóm tam hợp, Cô Thần và Quả Tú theo nhóm ba chi liền nhau. Bảng thứ hai gồm các sao đếm thẳng từ năm Tý: Hồng Loan, Thiên Hỷ, Long Trì, Phượng Các, Thiên Khốc, Thiên Hư.

Các bài về từng sao thường nằm rải rác, mỗi bài một cách an. Bài này làm việc ngược lại: đặt tất cả lên một chỗ để bạn tra một hàng là đọc được cả nhóm, kèm quy tắc gọn để dựng lại và những quan hệ cố định giúp kiểm lá số. Bảng được sinh từ quy tắc và đối chiếu lại từng ô. Bài không bàn ý nghĩa của sao nào.

Dữ kiện đầu vào: chỉ cần chi năm âm lịch

Mười một sao trong bài chỉ cần một dữ kiện: chi của năm sinh âm lịch, tức con giáp của năm. Không cần can, tháng, ngày, giờ hay giới tính. Mọi người sinh cùng một con giáp, cách nhau mười hai năm hay sáu mươi năm, đều có nhóm sao này ở cùng chỗ.

Điều kiện duy nhất là năm phải là năm âm lịch. Người sinh tháng Một, tháng Hai dương lịch trước Tết thuộc năm con giáp cũ. Đây là chỗ hay sai nhất: lấy nhầm con giáp thì mười một sao cùng lệch, kèm theo các sao an theo chi năm khác như vòng Thái Tuế.

Mười hai chi được gom theo hai kiểu nhóm khác nhau, và nhầm hai kiểu này là lỗi phổ biến khi chép bảng. Nhóm tam hợp gồm ba chi cách nhau bốn vị trí: Thân Tý Thìn, Dần Ngọ Tuất, Tỵ Dậu Sửu, Hợi Mão Mùi. Nhóm phương gồm ba chi liền nhau theo bốn hướng: Hợi Tý Sửu, Dần Mão Thìn, Tỵ Ngọ Mùi, Thân Dậu Tuất. Thiên Mã, Đào Hoa, Hoa Cái dùng nhóm tam hợp; Cô Thần, Quả Tú dùng nhóm phương.

Bảng 1: Thiên Mã, Đào Hoa, Hoa Cái, Cô Thần, Quả Tú

Tìm hàng theo con giáp của năm sinh âm lịch. Ba cột đầu đổi theo nhóm tam hợp, hai cột sau đổi theo nhóm phương.

Năm sinhThiên MãĐào HoaHoa CáiCô ThầnQuả Tú
Năm TýDầnDậuThìnDầnTuất
Năm SửuHợiNgọSửuDầnTuất
Năm DầnThânMãoTuấtTỵSửu
Năm MãoTỵTýMùiTỵSửu
Năm ThìnDầnDậuThìnTỵSửu
Năm TỵHợiNgọSửuThânThìn
Năm NgọThânMãoTuấtThânThìn
Năm MùiTỵTýMùiThânThìn
Năm ThânDầnDậuThìnHợiMùi
Năm DậuHợiNgọSửuHợiMùi
Năm TuấtThânMãoTuấtHợiMùi
Năm HợiTỵTýMùiDầnTuất

Thiên Mã chỉ đứng ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi; Đào Hoa chỉ đứng ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu; Hoa Cái chỉ đứng ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Cô Thần cũng chỉ đứng ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi, còn Quả Tú chỉ đứng ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Một ô nằm ngoài các nhóm cung này là ô chép sai.

Bảng 2: Hồng Loan, Thiên Hỷ, Long Trì, Phượng Các, Thiên Khốc, Thiên Hư

Sáu sao này đếm thẳng từ năm Tý theo một khởi điểm và một chiều cố định, nên mỗi cột tiến hoặc lùi đều một cung khi con giáp tăng một.

Năm sinhHồng LoanThiên HỷLong TrìPhượng CácThiên KhốcThiên Hư
Năm TýMãoDậuThìnTuấtNgọNgọ
Năm SửuDầnThânTỵDậuTỵMùi
Năm DầnSửuMùiNgọThânThìnThân
Năm MãoTýNgọMùiMùiMãoDậu
Năm ThìnHợiTỵThânNgọDầnTuất
Năm TỵTuấtThìnDậuTỵSửuHợi
Năm NgọDậuMãoTuấtThìnTýTý
Năm MùiThânDầnHợiMãoHợiSửu
Năm ThânMùiSửuTýDầnTuấtDần
Năm DậuNgọTýSửuSửuDậuMão
Năm TuấtTỵHợiDầnTýThânThìn
Năm HợiThìnTuấtMãoHợiMùiTỵ

Đọc dọc từng cột sẽ thấy nhịp đều: Hồng Loan, Thiên Hỷ, Phượng Các, Thiên Khốc lùi một cung mỗi năm; Long Trì, Thiên Hư tiến một cung mỗi năm. Một ô phá nhịp này, chẳng hạn hai năm liền nhau có cùng Hồng Loan, là ô in sai. Phép dò nhịp này mất vài giây cho mỗi cột và bắt được phần lớn lỗi chép tay.

Quy tắc gọn để dựng lại hai bảng

Thiên Mã. Đứng ở cung xung chiếu với chi đầu nhóm tam hợp: nhóm Thân Tý Thìn có Mã ở Dần, nhóm Dần Ngọ Tuất có Mã ở Thân, nhóm Tỵ Dậu Sửu có Mã ở Hợi, nhóm Hợi Mão Mùi có Mã ở Tỵ.

Đào Hoa và Hoa Cái. Đào Hoa: Thân Tý Thìn ở Dậu, Dần Ngọ Tuất ở Mão, Tỵ Dậu Sửu ở Ngọ, Hợi Mão Mùi ở Tý. Hoa Cái đứng ở chi cuối của chính nhóm: Thân Tý Thìn ở Thìn, Dần Ngọ Tuất ở Tuất, Tỵ Dậu Sửu ở Sửu, Hợi Mão Mùi ở Mùi.

Cô Thần và Quả Tú. Cô Thần đứng ở cung ngay sau nhóm phương theo chiều thuận, Quả Tú ở cung ngay trước nhóm theo chiều nghịch. Hợi Tý Sửu: Cô ở Dần, Quả ở Tuất. Dần Mão Thìn: Cô ở Tỵ, Quả ở Sửu. Tỵ Ngọ Mùi: Cô ở Thân, Quả ở Thìn. Thân Dậu Tuất: Cô ở Hợi, Quả ở Mùi.

Hồng Loan, Thiên Hỷ. Năm Tý có Hồng Loan ở Mão, rồi đếm nghịch theo con giáp: năm Sửu ở Dần, năm Dần ở Sửu. Thiên Hỷ luôn ở cung đối diện Hồng Loan.

Long Trì, Phượng Các. Năm Tý có Long Trì ở Thìn, đếm thuận; Phượng Các ở Tuất, đếm nghịch.

Thiên Khốc, Thiên Hư. Năm Tý cả hai cùng ở Ngọ; Thiên Khốc đếm nghịch, Thiên Hư đếm thuận.

Quan hệ cố định để kiểm lá số

Những tính chất sau đúng với mọi năm sinh, nên dùng được để kiểm một lá số mà không cần tra lại bảng.

  • Hồng Loan và Thiên Hỷ luôn đối cung, cách nhau đúng sáu cung.
  • Long Trì và Phượng Các luôn đối xứng qua trục Sửu – Mùi; đồng cung ở Mùi khi sinh năm Mão, ở Sửu khi sinh năm Dậu.
  • Thiên Khốc và Thiên Hư luôn đối xứng qua trục Tý – Ngọ; đồng cung ở Ngọ khi sinh năm Tý, ở Tý khi sinh năm Ngọ.
  • Thiên Mã, Đào Hoa, Hoa Cái của ba năm cùng nhóm tam hợp giống hệt nhau; ví dụ năm Thân, năm Tý, năm Thìn cùng có Mã ở Dần, Đào Hoa ở Dậu, Hoa Cái ở Thìn.
  • Cô Thần và Quả Tú luôn cách nhau bốn cung, kẹp nhóm phương của năm sinh ở giữa.

Nếu cả nhóm sao trên lá số cùng khớp với một hàng khác trong bảng, chẳng hạn khớp với năm Hợi trong khi lá số ghi năm Tý, thì gần như chắc chắn người lập đã lấy nhầm năm do sinh sát Tết.

Ví dụ giả định: kiểm một lá số năm Mão

Ví dụ giả định: một lá số ghi năm sinh âm lịch là năm Mão. Tra bảng 1: Mão thuộc nhóm tam hợp Hợi Mão Mùi, nên Thiên Mã ở Tỵ, Đào Hoa ở Tý, Hoa Cái ở Mùi; Mão thuộc nhóm phương Dần Mão Thìn, nên Cô Thần ở Tỵ, Quả Tú ở Sửu. Tra bảng 2: Hồng Loan ở Tý, Thiên Hỷ ở Ngọ, Long Trì ở Mùi, Phượng Các ở Mùi, Thiên Khốc ở Mão, Thiên Hư ở Dậu.

Kiểm bằng quan hệ cố định: Hồng Loan ở Tý và Thiên Hỷ ở Ngọ đối cung, đúng. Long Trì và Phượng Các đồng cung ở Mùi, đúng với năm Mão. Thiên Khốc ở Mão, Thiên Hư ở Dậu, đối xứng qua trục Tý – Ngọ, đúng. Cô Thần ở Tỵ và Quả Tú ở Sửu kẹp ba cung Dần, Mão, Thìn, đúng.

Để ý rằng năm Mão có Thiên Mã và Cô Thần cùng ở Tỵ, Hồng Loan và Đào Hoa cùng ở Tý. Những lần đồng cung này là hệ quả của quy tắc, xảy ra với mọi người sinh năm Mão; thấy chúng trên lá số không có gì bất thường về mặt lập lá số.

Lỗi hay gặp khi chép nhóm sao theo chi năm

Vì nhóm sao này đông và quy tắc chia làm hai kiểu nhóm chi, lỗi chép xuất hiện khá đều. Những lỗi dưới đây đều bắt được bằng hai bảng và các quan hệ cố định ở trên.

  • Dùng nhóm tam hợp cho Cô Thần, Quả Tú: ví dụ năm Tý đặt Cô Thần theo nhóm Thân Tý Thìn thay vì nhóm phương Hợi Tý Sửu, làm Cô Thần lệch khỏi Dần.
  • Đếm Hồng Loan thuận thay vì nghịch, nên năm Sửu ra Thìn thay vì Dần. Lỗi này kéo luôn Thiên Hỷ theo vì Thiên Hỷ đặt đối diện Hồng Loan.
  • Lẫn khởi điểm Long Trì và Phượng Các: đặt Long Trì ở Tuất, Phượng Các ở Thìn. Cặp vẫn đối xứng qua trục Sửu – Mùi nên trông hợp lệ; chỉ kiểm hàng năm Tý mới thấy sai.
  • Lấy chi của năm dương lịch cho người sinh trước Tết, làm cả nhóm lệch sang hàng của năm kế tiếp.
  • Chép đủ sao nhưng bỏ sót một sao khi hai sao đồng cung, như Hồng Loan và Đào Hoa cùng ở Tý của năm Mão; người chép tưởng đã ghi rồi.

Khi kiểm lá số chép tay, nên đếm đủ mười một sao của nhóm này trước khi soát vị trí; thiếu một sao là lỗi dễ sửa nhất nhưng cũng dễ bị bỏ qua nhất.

Bảng đúng, lời luận vẫn cần dè dặt

Nhóm sao này có nhiều tên gọi gợi chuyện tình duyên, đi lại, cô đơn hay buồn khóc, và vì thế thường bị đọc rất nặng. Nhưng như hai bảng cho thấy, vị trí của chúng chung cho mọi người cùng con giáp, cách nhau mười hai năm vẫn y hệt. Lập đúng lá số không làm lời đoán thành có bằng chứng, và chưa có nghiên cứu nào cho thấy nhóm sao này dự đoán được điều gì về một người cụ thể.

Giá trị của bảng là giúp lá số được dựng nhất quán và giúp bạn khoanh vùng lỗi nhanh, nhất là lỗi lấy nhầm năm khi sinh sát Tết. Với người viết công cụ, hai bảng là bộ thử gọn: mười hai năm, mười một cột, cộng các quan hệ cố định có thể viết thành dòng kiểm tự động.

Nếu bạn lập lá số trên AI Huyền Học, có thể dò nhanh mười một sao này theo con giáp của mình bằng hai bảng trên. Khớp là phần này được lập đúng quy ước; còn đọc nghĩa thế nào, hãy coi đó là tư liệu văn hóa và giữ quyết định của mình cho những căn cứ thực tế.

Câu hỏi thường gặp

Thiên Mã an theo chi năm như thế nào?

Thiên Mã an theo nhóm tam hợp của chi năm sinh: nhóm Thân Tý Thìn ở Dần, nhóm Dần Ngọ Tuất ở Thân, nhóm Tỵ Dậu Sửu ở Hợi, nhóm Hợi Mão Mùi ở Tỵ. Vì vậy Thiên Mã chỉ đứng ở bốn cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi.

Cô Thần, Quả Tú dùng nhóm tam hợp hay nhóm khác?

Cô Thần và Quả Tú dùng nhóm phương gồm ba chi liền nhau: Hợi Tý Sửu, Dần Mão Thìn, Tỵ Ngọ Mùi, Thân Dậu Tuất. Cô Thần ở ngay sau nhóm theo chiều thuận, Quả Tú ở ngay trước nhóm theo chiều nghịch.

Hồng Loan và Thiên Hỷ có quan hệ gì trên lá số?

Hai sao luôn ở hai cung đối diện nhau. Hồng Loan khởi ở Mão với năm Tý rồi đếm nghịch theo con giáp, Thiên Hỷ đặt ở cung đối diện Hồng Loan.

Năm nào Long Trì, Phượng Các đồng cung?

Năm Mão hai sao cùng ở Mùi, năm Dậu hai sao cùng ở Sửu. Ở mười năm còn lại, hai sao đứng ở hai cung khác nhau nhưng luôn đối xứng qua trục Sửu – Mùi, nên tổng số thứ tự cung của chúng không đổi.

Sinh trước Tết thì tra hàng năm nào?

Tra theo năm âm lịch có ngày sinh, tức con giáp của năm cũ nếu chưa qua Tết. Lấy nhầm con giáp làm cả mười một sao trong hai bảng cùng lệch, cộng thêm vòng Thái Tuế.

Có thể dùng hai bảng này để kiểm phần mềm không?

Có. Cho phần mềm lập mười hai lá số giả định với mười hai con giáp, so mười một cột với bảng, và kiểm thêm các quan hệ cố định như Hồng Loan đối cung Thiên Hỷ. Việc này chỉ kiểm quy tắc, không kiểm giá trị dự đoán.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183